TƯ SẢN DỆT & ĐỒN ĐIỀN TẠI BÌNH ĐỊNH CUỐI TK XIX – XX.

Thứ ba - 09/09/2025 10:40
Tỉnh Bình Định xưa (Gia Lai hiện nay) thời điểm cuối thế kỷ XIX bước sang đầu TK XX là địa phương có lợi thế để phát triển kinh tế do vừa có cảng biển thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu vừa có đất đai vùng thượng du để lập đồn điền trồng cây nhiệt đới và chăn nuôi. Lúc bấy giờ, những tư sản Pháp điển hình đi tiên phong là các ông Lucien Delignon và Camille Paris; một sự hợp tác giữa người đầu tư vốn là ông L. Delignon (tên thường gọi là Buffon, tiến sĩ Luật) với một thực dân nông nghiệp là ông Camille Paris (cựu chủ sự nhà dây thép Tourane, nhà khảo cổ học nghiệp dư và trước đó, từ 1891-1897 ông ta từng là chủ đồn điền cà phê Phong Lệ, Tourane).Ông L. Delignon sinh ngày 08-01-1874 tại Médéa (Algérie), sau khi đạt học vị Tiến sĩ Luật đã đến Đông Dương để đầu tư vốn tại Quy Nhơn – Bình Định (tỉnh Bình Định lúc bấy giờ bao gồm cả đất Gia Lai và Kontum).
Áp phích quảng bá đồn điền Dak Joppau năm 1905 - chân dung các ông Delignon và Paris
Áp phích quảng bá đồn điền Dak Joppau năm 1905 - chân dung các ông Delignon và Paris
I - Lập các đồn điền tại An Khê và Phú Phong:
Theo thỏa thuận với ông L. Delignon, ngày 21/5/1898 ông C. Paris cập bến Quy Nhơn để đến ngày 23/5 khởi hành lên vùng An Khê tìm vùng đất thích hợp lập đồn điền. Vì thế, C. Paris đã vượt đèo An Khê (lúc đó gọi là đèo Mang hoặc đèo Lòng Mang, đèo Vĩnh Viễn) để khảo sát nhằm chọn vị trí lập đồn điền trồng cây công nghiệp và chăn nuôi. Ồng C. Paris đã dừng chân tại vùng đất bị cắt ngang bởi suối Thầu Dầu (Dak Joppau, theo ký âm của C. Paris là suối Tầm Vao); vùng đất này nằm cách cầu Tư Lương bắc qua sông Ba hiện nay khoảng 5 cây số, và cách đèo Cho-ra (nay là đèo Mang Yang, người Pháp gọi là đèo Cho-ra do ở khu vực đèo lúc đó có làng Kon Chorah, nay là Kon Ch’rah xã Hra - Mang-Yang). Do đã được tư vấn từ trước khi khởi hành nên 2 ông đã đặt mua các hạt giống của vườn thực vật Buitenzorg được gửi đến từ Singapore và Sài Gòn, để có thể ngay sau đó lập các vườn ươm cây chè và cây cà phê. Việc lựa chọn vùng đất Dak Joppau được ông L. Delignon chấp thuận và ngày 01-6-1898 ông đã nộp đơn xin và được Khâm sứ Trung kỳ cấp 500 hecta đất “nhượng địa tạm thời”.
Đến ngày 16-10-1898, theo yêu sách của Khâm sứ Trung kỳ Boulloche, triều đình Huế buộc phải nhượng bộ để thực dân Pháp bảo hộ, kiểm soát khu vực thượng du Trung kỳ, tức vùng đất Tây nguyên hiện nay. Năm 1898 cũng là năm Pháp thành lập tòa Đại lý hành chính Kontum, bao gồm cả đất Gia Lai cũ. Vì thế việc đầu tư vốn để lập đồn điền trồng trọt và chăn nuôi cũng như thành lập nhà xưởng với trang bị máy móc tiên tiến là một việc làm táo bạo và dũng cảm vì cuối thế kỷ 19, khu vực miền núi vẫn còn nhiều vùng người dân chưa chịu khuất phục nên đã nổi dậy chống đối thực dân Pháp.
Năm 1898-1899, vùng cao nguyên An Khê vẫn còn là nơi “sơn lam chướng khí” với bệnh sốt rét rừng rất đáng sợ nên việc thuê mướn nhân công khá khó khăn, số lượng nhân công chỉ đủ đáp ứng ở mức tối thiểu. Mặc dù đồn điền ở gần các làng người dân tộc thiểu số tại chỗ nhưng lực lượng lao động này khá thất thường do họ đến làm tùy thích và đôi khi đồn điền cần huy động số lượng nhân công lớn thì họ lại có việc làng nên không đến. Để khởi tạo đồn điền, ông C. Paris phải tuyển 70 thợ, trong số đó chọn ra những người từng là lính bảo an hoặc dân quân cũ làm cai thợ, các thợ mộc và thợ xây làm nhà và xưởng thì đưa từ đồng bằng lên.
Tuy có những khó khăn ban đầu về nhân công, về dự báo thời tiết để đặt cây con từ vườn ươm xuống đất đạt kết quả tốt, kể cả chưa có kinh nghiệm trong việc di thực các loại cây trồng v.v. nhưng đến ngày 10-2-1899 đồn điền đã đạt được một khu vườn được bao bọc bởi rào chắn với đàn súc vật và cây trồng như sau(1):
Về súc vật nuôi 34 con trâu bò, 21 con ngựa. Về các loại cây trồng: 12.000 cây cà phê, 12.000 cây chè đã trồng xong; và một vườn ươm với: 190.000 cây cà phê giống, 30.000 cây chè giống, 14.000 cây cau, 1.500 cây hồ tiêu, 500 cây ca cao. Ngoài ra, C. Paris cũng tiến hành nghiên cứu di thực một số cây trồng nhiệt đới khác để nó làm quen với thủy thổ khu vực (Như thể hiện trên áp phích của công ty L. Delignon in năm 1905, các loại cây trồng khác là: cây cao su, mía đường, đậu phụng, thầu dầu...).
Số vốn đầu tư của ông Delignon dành cho đồn điền chỉ 100.000 Francs(2) trong khi đó thời gian đầu, đồn điền mới tạo lập chưa thể có thu hoạch sản phẩm nông nghiệp nên các ông Delignon và Paris đã mở một cửa hàng vừa làm đại lý vừa làm kho chứa muối là thứ thiết yếu cho người dân vùng thượng du; năm đầu tiên từ 21/6/1898 đến 10/2/1899chỉ qua trao đổi lúa gạo và muối, cửa hàng của đại lý đã thu lợi được khoảng 30% số vốn bỏ ra mua muối(3). Để bảo đảm an ninh cho đại lý và đồn điền, các ông Delignon và Paris đã được công sứ Bình Định và Khâm sứ Trung kỳ cho phép công ty có 6 người trang bị súng ca-bin Gras để ngăn chặn các phần tử bất hảo quấy nhiễu. Sau 4 tháng ở đồn điền Dak Joppau, ông Delignon về Pháp còn ông C. Paris đưa vợ con lên sống tại Dak Joppau đồng thời ông cũng can thiệp với xã trưởng để bố trí cho 2 gia đình công nhân được làm nhà trong khu vực đất của đồn điền.
Từ năm 1899 ông C. Paris bắt đầu trồng thử nghiệm 1.000 cây cao su tại Dak Joppau. Đến ngày 29-01-1900, vùng đất lập đồn điền Dak Joppau (dân chúng trong vùng thường gọi là đồn điền Chầu Bầu) của các ông L. Delignon và C. Paris được cấp vĩnh viễn với diện tích 531,6 hecta.(4)
tu san det 3 jpg
Đồn điền Dak Joppau đăng trên sách “Annam 1906”.p128
Để tăng diện tích trồng cây cao su, ngày 28-5-1899 ông C. Paris, đại diện công ty Delignon nộp đơn xin cấp thêm đất tại làng Tả Giang thuộc huyện Bình Khê. Đến ngày 06-12-1900, Công ty L. Delignon được cấp 500 hecta đất để lập đồn điền Sông Xanh (Rivière – Verte), tại đây ông C. Paris trồng thử nghiệm 170.000 hạt giống cao su Para (Hévéa brasiliensis).
Cuối năm 1907, những người Âu làm việc cho Công ty Delignon & Paris tại Phú Phong gồm: Camille Paris, giám đốc nhà máy tại Phú Phong và các nhân viên: Paradis, Jean Ratier, Louis-Eugène Rideau và Lucien Tortel.
Đến ngày 22/1/1908, ông Paris và bạn là Barault cùng với Fort (thiếu úy chánh quản đồn vệ binh đóng ở An Khê) đã dẫn đầu một nhóm 16 lính và một số cu-li khuân vác đi khảo sát tìm dấu vết cây cao su hoang dã. Ngày 25-1-1908 khi đoàn đến làng Kon Klott thì bị sự phản kháng của dân làng, Fort ra lệnh rút lui sau khi đốt nhà rông của làng với suy nghĩ các chiến binh và dân làng sẽ tập trung vào đó chữa cháy và nhóm người của ông ta sẽ có cơ hội để thoát thân. Kết quả cuộc tháo chạy là 6 người chết và 9 bị thương, ông Paris trúng tên tẩm thuốc độc vào mạng sườn trái sâu 2 phân, sau khi được Barault rút mũi tên ra một lúc thì ông chết vì vết thương quá nặng, đoàn để xác ông lại đến hôm sau mới quay lại tìm xác đem về và sau đó chôn tại Qui Nhơn(5). C. Paris chết năm 52 tuổi để lại 6 con còn nhỏ.
Sau cái chết của ông Paris, công ty Delignon vẫn cử người chăm sóc, duy trì đồn điền Dak Joppau và đến năm 1911 Dak Joppau có 15.400 cây cao su, và đồn điền Sông Xanh (Tả Giang) có 22.400 cây cao su Hévéa; trong cả 2 nơi đó có 10.000 cây đã ở giai đoạn cạo mủ thu hoạch (Tổng diện tích trồng cây cao su của cả 2 đồn điền này là 200 hecta)(6).
Theo Biên niên các sự kiện “Chi nhánh các đồn điền của công ty L. Delignon” (L. Delignon – Branche plantations café, thé, hévéas, mûriers…)(7): Từ năm 1914-1915 trở đi, công ty L. Delignon khai thác thêm đồn điền Đồng Sim (người Pháp viết là Dông-xim) diện tích khoảng 500 hecta để trồng lúa và cây dâu tằm. Thời điểm này công ty thuê 3 kỹ sư nông nghiệp: Harlot, giám đốc các đồn điền; Le Baron và Renobier.
Năm 1918, Dak Joppau có được 40.000 cây cao su Hévéa trong đó một nửa, tức 20.000 cây đã có thể cạo mủ, tuy vậy do năm này xảy ra cuộc phá phách đồn điền của những người dân tộc thiểu số tại chỗ ở các làng bên cạnh nên công ty Delignon chuyển hướng mở rộng trồng và khai thác cây cao su tại đồn điền Sông Xanh (Phú Phong) do nơi này điều kiện an toàn và thuận lợi hơn.
Mặc dầu đến năm 1923, Delignon & Cty được cấp giấy chứng nhận kiểm định chất lượng mủ cao su sản xuất từ đồn điền Dak Joppau với kết luận: “chất lượng rất tốt về các thành phần hóa học và có thể so sánh với thành phẩm của các đồn điền có tiếng tăm thời bấy giờ(8). Nhưng do công ty chuyển hướng xuống 2 đồn điền phía dưới đèo An Khê là Đồng Sim và Sông Xanh nên, đồn điền Chầu Bầu - Dak Joppau bị lãng quên để rồi sau 1937 thì gần như không còn được các sách báo Pháp đưa vào các niên giám cây trồng công nghiệp nữa!
Các hoạt động của chi nhánh đồn điền thuộc công ty L. Delignon hoàn toàn độc lập với các cơ sở kỹ nghệ dệt tơ lụa mặc dù cả 2 đều do vốn đầu tư ban đầu của ông Delignon-Buffon.
II - Công ty Delignon và nhà máy dệt lụa tại Phú Phong:
Trong quá trình lui tới giữa Quy Nhơn và Dak Joppau An Khê, ông Delignon đã quan tâm đến nghề dệt truyền thống tại khu vực Phú Phong và phụ cận, lúc đó nghề này đang bị sa sút, một số khung dệt cần phải sửa chữa và cải tiến.
tu san det 2
Hình chụp bên trong một xưởng dệt máy của nhà máy Phú Phong Bình Định đăng trên “L’Agence économique de l’Indochine ngày 01-5-1928”.
Kỷ yếu “Triển lãm quốc gia về Nông nghiệp thuộc đia năm 1905” phần “Báo cáo về ngành dệt may và đan lát” ghi nhận:
Năm 1900, ông Delignon quan tâm đến ngành sản xuất tơ lụa. Trên thực tế, tỉnh Bình Định xưa (Gia Lai hiện nay) là một trung tâm nuôi tằm quan trọng. Trong một thời gian rất dài, một số ngôi làng ở khu vực xung quanh đã sản xuất lụa crêpe Quy Nhơn thành từng mảnh dài 16 mét, khổ rộng 45 cm, đến nay đã có được một danh tiếng nhất định ở Đông Dương. Các ông Delignon và Paris quyết định tạo động lực mới cho ngành công nghiệp địa phương lâu đời này và dành toàn bộ nỗ lực để hoàn thiện nó; các hợp đồng đã được ông ký kết với những người thợ dệt người Việt, những khoản tiền lớn đã được cung cấp cho họ mà không có lãi suất; những khung cửi thô sơ đã được sửa chữa và cải tiến; một loại lụa crêpe mới đã được sản xuất thành từng mảnh dài 45 mét và rộng 60 cm.
100 thợ dệt đã đảm bảo sản lượng trung bình 200 tấm lụa mỗi tháng. Một đại lý đại diện thương hiệu được xây dựng tại Paris để trưng bày sản phẩm này sau khi đã trải qua tất cả các công đoạn xử lý cần thiết tại Lyon: nhuộm, in, hoàn thiện, v.v.
Năm 1902, lụa crêpe Quy Nhơn đã được các thương hiệu lụa lớn và các cửa hàng bán đồ hợp thời trang mới lạ ở Pháp chấp nhận. Nói tóm lại, mặt hàng này đã cạnh tranh tốt ở khắp mọi nơi với các sản phẩm tương tự từ Trung Quốc và Nhật Bản, và thành công ngày càng tăng của nó đã tạo ra ý tưởng cho các ông Delignon và Paris xây dựng một nhà máy kéo sợi, một nhà máy xe tơ và một nhà máy dệt cơ khí. Một năm sau, vào ngày 02-8-1903, họ đã khánh thành một nhà máy hơi nước 125 HP (mã lực) ở Phú-Phong bao gồm: một nhà máy kéo sợi với 64 chảo ươm tơ và kéo sợi, hệ thống Berthaud phiên bản 1902, thiết bị kéo sợi xoắn hoàn chỉnh, nhà máy dệt sợi, v.v.
Một vườn ươm tằm lớn cũng được xây dựng bên cạnh nhà máy. Xung quanh đó, các đồn điền dâu tằm rộng lớn cung cấp lá cần thiết để nuôi tằm. Ngoài ra, một số lượng lớn những người thợ dệt thủ công ở các làng quê Bình-Định cũng được ký hợp đồng để làm việc cho cùng một thương hiệu. Với triển lãm lụa của ông Delignon, ban giám khảo tặng thưởng Huy chương vàng.
tu san det 1
Áp phích quảng bá thương hiệu dệt lụa L. Delignon trên tạp chí Le courrier colonial illustré số ra ngày 15-12-1928.
Tuy là chủ sở hữu duy nhất của nhà máy dệt cơ khí Phú Phong nhưng ông Delignon vẫn không quên phát triển đồn điền Dak Joppau nên những sản phẩm cà phê và chè thương hiệu Fou-Fong (Phú Phong) của ông được nhiều nơi đón nhận nồng nhiệt”.(9)
Đến năm 1910, Niên giám tổng quát Đông Dương thuộc Pháp năm cho biết thêm thông tin: “Nhà máy Phú Phong và các công trình phụ của nó có diện tích 10 ha và sử dụng khoảng 550 công nhân. Các nhân viên người Âu bao gồm: Ông Harlot quản lý trồng trọt, giám đốc; ông Lucien Tortel, quản đốc dệt.
Các thiết bị của nhà máy là tối tân và hiện đại. Các guồng xe tơ do ông J. Berthaud-fils, ở Lyon cung cấp, cũng như các máy khác để xe tơ; các máy dệt được sản xuất từ các xưởng Guillaume Diederichs, Sainte-Colombe xứ Vienne. Một xưởng rèn và một xưởng sửa chữa hoàn chỉnh (với máy khoan, máy đục lỗ, máy tiện, máy cưa cơ khí và máy làm nước đá…).
Ông Delignon cũng lưu giữ và vận hành một số khung dệt bằng tay, phân bố ở một vài làng, để sản xuất lụa nhiễu Qui-Nhơn, duy trì nghề dệt truyền thống”.(10)
Từ lúc khánh thành đến năm 1911, ông Delignon vẫn là chủ sở hữu duy nhất của cơ sở dệt Phú Phong. Tháng 1 năm 1911, ông thành lập Công ty  nặc danh “Établissements L. Delignon” với số vốn điều lệ gốc 1.775.000 Francs; nhà máy hiện trang bị 100 chảo kéo sợi (gồm 48 chảo 4 đầu sợi và 52 chảo 6 đầu sợi), 42 chảo ươm tơ, 500 guồng quay tơ, 3.000 trục suốt và 57 khung dệt cơ khí. Trụ sở điều hành công ty đặt tại số 15, đại lộ l’Opéra, Paris (Thông báo thành lập công ty được đăng trên nhật báo Le Courrier ngày 13/2/1911). Công ty L. Delignon đã đặt 8 đại lý thu mua tại các trung tâm nuôi tằm khắp miền Trung, năm 1911 công ty mua vào 122.000 kg kén tươi.
Đến năm 1911, sản phẩm tơ lụa của công ty đạt được các giải thưởng lớn khi tham gia các cuộc triển lãm tại: Liége 1905, Tourcoing 1906, Londres 1908, Nancy 1909, Bruxelles 1910 và Roubaix 1911(11).
(Vị trí nhà máy dệt Phú Phong cũ sau 1975 được công ty Dâu tằm tơ Bình Định xây thành khách sạn bên bờ sông Côn nhưng nơi này gần như hoang phế!)
Để phát triển sản xuất, khoảng năm 1924 công ty Delignon đặt thêm nhà máy tại Bồng Sơn với 50 chảo kéo sợi và 26 chảo ươm tơ, dẫn đến lượng kén tươi hàng năm của công ty lên đến 200 tấn.(12)
Ngày 01-5-1929 Công ty Delignon khánh thành nhà máy kéo sợi Giao Thủy với sự tham dự của Khâm sứ Trung kỳ Jabouille và công sứ Quảng Nam Colombo.                           
Nhờ kinh doanh hiệu quả và uy tín cao nên công ty L. Delignon đã thu hút được nhiều vốn đầu tư, diễn tiến vốn từ khi thành lập đến năm 1938 như sau:
Vốn điều lệ gốc 1911: 1.775.000 Fr (17.750 cổ phiếu mệnh giá 100Fr);
1913: 2.200.000 Fr (phát hành thêm 4.250 cổ phiếu);
1925: 6.000.000 Fr (phát hành thêm 38.000 cổ phiếu);
1931: 2.000.000 Fr (giảm còn 20.000 cổ phần);
1937: 1.000.000 Fr (giảm còn 10.000 cổ phiếu để sau đó phát hành thêm 25.000 cổ phiếu nhằm tăng vốn trong năm 1937 lên 3.500.000 Fr; gọi là biện pháp co-giãn vốn đầu tư).
Hội đồng quản trị đến năm 1937-1938 gồm: 1- L. Delignon: chủ tịch; 2- P. Bernard; 3- Collot; 4- J. Daloz; 5- P. Laurens; 6-Denis Lê-Phát-An, là các quản trị viên”.(13) (NQH: Đến năm 1937-1938 hội đồng quản trị công ty L. Delignon có thêm một tư sản người Việt là ông Lê Phát An, cậu ruột hoàng hậu Nam Phương).
Do nhà máy dệt Phú Phong nằm trên trục giao thông thuận lợi giữa Quy Nhơn và  Kontum và là nhà máy lớn do tư sản Pháp đầu tư có hiệu quả cao nên các Toàn quyền Đông Dương và vua Bảo Đại đã từng ghé thăm nhà máy.
Ông Lucien Delignon qua đời ngày 15/9/1942 tại Pháp, hưởng thọ 69 tuổi.
Các hoạt động của công ty “Établissement L. Delignon” tiếp tục mang lại lợi nhuận rất lớn cho các tư sản Pháp tham gia hùn vốn cho đến năm 1952, do chiến tranh các cơ sở chính của công ty, nhà máy dệt Phú Phong, nhà máy kéo sợi của công ty tại Giao Thủy bị thiệt hại và tê liệt không thể hoạt động tiếp.(14)
Tuy các tư sản người Pháp làm giàu nhờ đất đai màu mỡ của cao nguyên và bóc lột công sức của người dân lao động nghèo khổ nhưng dù sao họ cũng đã đem đến cho chúng ta cách trồng các loại cây công nghiệp quy mô lớn có giá trị xuất khẩu cao, cũng như đã trang bị những máy móc thiết bị tiên tiến của ngành dệt tơ lụa thay cho những khung dệt thủ công của dân ta lúc bấy giờ năng suất thấp và chất lượng sản phẩm chưa thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới.
(1) Paris, C. “Travaux de culture exécutés à Dak Joppau en 1989”, Bulletin économique de l’Indochine, 01-5-1899, p418-421;
(2) L’Agriculture pratique des pays chauds, 1905, “Rapports: Les textiles...” p182;
(3) Paris, C. “La création d’un établissement agricole et commerciale au Dak Joppau – 1er année…”, Bulletin de la société géographie commerciale de Paris, p209-219;
(4) Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, Nam phong tạp chí số 193 tháng 2-3/1934, trang 142.
(5) Trích “Báo cáo viết ngày 27-1-1908 của Fort chỉ huy đồn gửi ông thanh tra vệ binh bản xứ hạng 1 tại Quy Nhơn, tài liệu của TTLTQG IV.
6) Bulletin économique de l’Indochine, “Colonisation européenne – Hévéa Dak Joppau”, 07-1911, p534;
(7) www.entrepris-coloniales.fr/ L. Delignon - Branche des plantations, 03-10-2018;
(8) Bulletin de l’agence générale des colonies, “Caoutchouc de Dak Joppau Quy Nhơn”, 1923, p910.
(9) Exposition nationale d’agriculture coloniale en 1905, p182.                                                                                 
(10) Annuaire général de l’Indochine française, 1910, p514.
(11)
La dépêche coloniale illustré, 15-8-1913, p221;

(12) Communiqué de la presse indochinoise, 30-6-1925, p6;
(13) Bulletin économique de l’Indochine, 1943, p268.
(14) L’Information financière, économique et politique, 02 février 1952.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Quang Hiền - Ủy viên BTV Liên hiệp các Hội KH&KT Gia Lai (cũ)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập13
  • Hôm nay3,326
  • Tháng hiện tại52,097
  • Tổng lượt truy cập3,708,789
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây