Bộ đôi giống lúa mới BĐR57 và BĐR999: Giải pháp vàng thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả sản xuất tại Gia Lai
- Thứ tư - 30/09/2026 16:30
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Lúa nước là cây trồng chủ lực và là nguồn thu nhập chính của đại đa số bà con nông dân tại các xã phía Đông tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, do đặc thù khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với hai mùa mưa - khô rõ rệt, sản xuất lúa tại địa phương thường xuyên gặp nhiều bất lợi: Vụ Đông Xuân thường chịu các đợt gió mùa Đông Bắc kéo dài làm thời tiết âm u, ít nắng và rét lạnh. Nhiều năm mưa lớn kéo dài đến tận đầu tháng 1 năm sau gây ngập úng, buộc bà con phải gieo sạ lại nhiều lần, tốn kém chi phí dặm tỉa và chăm sóc; Vụ Hè Thu thường xuyên đối mặt với gió Nam khô nóng, nhiệt độ tăng cao gây hạn hán cục bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thời kỳ xung yếu như làm đòng và trỗ bông.
Trước thực tế đó, việc chuyển đổi sang các giống lúa ngắn ngày, chịu lạnh - nóng tốt và chống chịu sâu bệnh hại (đặc biệt là bệnh đạo ôn và rầy nâu) là đòi hỏi cấp thiết để rút ngắn thời gian hiện diện trên đồng ruộng, né tránh thiên tai và tăng năng suất, thu nhập cho nông dân. Nhóm tác giả ThS. Hồ Sĩ Công và ThS. Tạ Thị Huy Phú, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ đã chọn tạo thành công hai giống lúa tẻ mới: BĐR57 và BĐR999.
Giống lúa BĐR57 được lai tạo từ tổ hợp lai đơn giữa dòng bố AN26-1 và giống mẹ Khao Dawk Mali (nhập nội Thái Lan) theo phương pháp phả hệ. BĐR57 chính thức được Cục Trồng trọt công bố lưu hành theo Quyết định số 265/QĐ-TT-VPPN ngày 22/9/2022. Thời gian sinh trưởng (TGST): Thuộc nhóm ngắn ngày, trong điều kiện gieo thẳng vụ Đông Xuân đạt 100–115 ngày, vụ Hè Thu đạt 90–95 ngày. Mô hình thực tế tại Gia Lai: BĐR57 có TGST vụ Đông Xuân là 106 ngày và vụ Hè Thu là 89 ngày, rút ngắn thời gian hiện diện trên đồng ruộng từ 11 đến 12 ngày so với giống đối chứng VNR20. Khả năng chống chịu: BĐR57 thể hiện mức kháng vừa đối với rầy nâu (cấp hại 4,2–4,6) và bệnh đạo ôn lá (cấp hại 4,7–5,0) trong điều kiện kiểm tra nhân tạo. Giống có khả năng chống đổ ngã tốt, trỗ thoát cổ bông hoàn toàn và chịu lạnh, chịu nóng rất tốt, không bị vàng lá hay khô đầu lá sau các đợt gió bất lợi. Năng suất: Khảo nghiệm cơ bản đạt trung bình 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt trên 80 tạ/ha. Trong các mô hình trình diễn tại Gia Lai (2020–2021), BĐR57 đạt năng suất 78,35–79,85 tạ/ha trong vụ Đông Xuân (cao hơn đối chứng VNR20 từ 5,7–6,4%) và 68,60–71,55 tạ/ha trong vụ Hè Thu (cao hơn từ 5,9–7,9%). Chất lượng thương phẩm: Tỷ lệ gạo xát đạt 67,4–74,0%, tỷ lệ gạo nguyên đạt 63,5–87,5%. Hạt gạo thon dài (6,1–6,3 mm). Hàm lượng amylose thấp (16–17%), độ bền thể gel mềm, cơm dẻo, mềm, vị ngon và có mùi thơm nhẹ. Hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận trung bình trong mô hình tại Gia Lai vụ Đông Xuân đạt 26,114 triệu đồng/ha (cao hơn VNR20 là 3,070 triệu đồng/ha); vụ Hè Thu đạt 21,930 triệu đồng/ha (cao hơn 3,230 triệu đồng/ha), giúp tăng hiệu quả kinh tế từ 10,4% đến 20,6%.

Giống lúa BĐR999 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữa dòng bố VTNA6 và giống mẹ An Sinh 1399 (ANS1). BĐR999 được công bố lưu hành theo Quyết định số 264/QĐ-TT-VPPN ngày 22/9/2022 của Cục Trồng trọt. Thời gian sinh trưởng: Vụ Đông Xuân đạt 102–106 ngày, vụ Hè Thu đạt 90–95 ngày. Trong mô hình thực tế tại Gia Lai, TGST vụ Đông Xuân là 108 ngày, vụ Hè Thu là 92 ngày, ngắn hơn đối chứng ĐV108 từ 2 đến 3 ngày. Đặc tính nông học: Thân cây rất cứng, chống đổ ngã vượt trội; trỗ thoát cổ bông hoàn toàn; số hạt chắc/bông cao (165–180 hạt/bông). Chống chịu sâu bệnh: Trong khảo nghiệm kiểm soát, BĐR999 có phản ứng kháng với bệnh đạo ôn lá (cấp bệnh 3) và nhiễm vừa bệnh bạc lá (cấp 5). Trên đồng ruộng, giống thể hiện khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn hẳn giống đối chứng ĐV108. Năng suất: Tiềm năng thâm canh đạt trên 80 tạ/ha (trung bình 67–75 tạ/ha). Thực tế gieo sạ mô hình tại Gia Lai đạt 78,55 tạ/ha trong vụ Đông Xuân và 69,57 tạ/ha trong vụ Hè Thu, vượt giống đối chứng ĐV108 từ 3,94 đến 4,90 tạ/ha. Đặc tính hạt và cơm: Tỷ lệ gạo lật đạt 80,2–81,6%, gạo xát 69,5–73,9%. Hàm lượng amylose cao (>25,75%), hạt cơm cứng và rời hạt. Đây là đặc tính ưu việt giúp BĐR999 trở thành nguồn nguyên liệu tuyệt vời phục vụ công nghiệp chế biến thực phẩm (bún, bánh tráng, phở, hủ tiếu). Hiệu quả kinh tế: Mô hình gieo trồng tại Gia Lai mang lại lợi nhuận 29,615 triệu đồng/ha (vụ Đông Xuân) và 23,859 triệu đồng/ha (vụ Hè Thu), tăng hiệu quả kinh tế từ 13,5% đến 13,8% so với giống cũ.
Nhờ các ưu điểm vượt trội về năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng, cả hai giống lúa đã được chính quyền địa phương đưa vào cơ cấu gieo trồng tại Gia Lai: Giống BĐR57 được đưa vào cơ cấu giống gieo trồng chính thức từ vụ Đông Xuân 2024–2025. Giống BĐR999 được đưa vào cơ cấu giống bổ sung từ vụ Đông Xuân 2023–2024. Diện tích mở rộng: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ đã phối hợp với Công ty Cổ phần Giống cây trồng Đông Nam chuyển giao bản quyền tác giả. Tính đến nay, diện tích sản xuất mở rộng đạt khoảng 40.000 ha đối với BĐR57 và 30.000 ha đối với BĐR999 tại Gia Lai và các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên.
Việc nghiên cứu chọn tạo thành công hai giống lúa mới BĐR57 và BĐR999 là giải pháp khoa học công nghệ xuất sắc, giải quyết triệt để các hạn chế về thời tiết bất lợi và dịch bệnh tại vùng sản xuất lúa tỉnh Gia Lai. Cả hai giống lúa đều sở hữu các ưu điểm vượt trội: Thời gian sinh trưởng ngắn, cứng cây chống đổ ngã, tiềm năng năng suất cao (>75 - 80 tạ/ha), kháng vừa đạo ôn và rầy nâu, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 10% đến 20% so với các giống đối chứng đại trà. Ngoài ra, cả 02 giống lúa này ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng trong sản phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng, đây cũng là tính ưu việt vượt trội của hai dòng sản phẩm này.
Thực tiễn sản xuất đòi hỏi cấp thiết phải thay thế các giống lúa cũ trung ngày, dễ nhiễm sâu bệnh bằng các giống lúa mới ngắn ngày, chịu nhiệt đới cực đoan (nóng/lạnh tốt), kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn. Sự xuất hiện của hai giống lúa BĐR57 (chuyên sản xuất gạo ăn chất lượng cao) và BĐR999 (chuyên sản xuất nguyên liệu chế biến) là câu trả lời khoa học hoàn hảo cho mục tiêu trên. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng năng suất của hai giống lúa BĐR57 và BĐR999, cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nông nghiệp và chính quyền các địa phương: Tiếp tục hướng dẫn nông dân quy hoạch vùng gieo sạ phù hợp với từng chân đất và tiểu vùng sinh thái; Tăng cường tập huấn kỹ thuật canh tác chuẩn, đặc biệt là áp dụng đúng mật độ gieo sạ (80 - 120 kg/ha) và cân đối tỷ lệ phân bón N-P-K (100N - 80P₂O₅ - 60K₂O) để tránh bón thừa đạm gây bùng phát bệnh đạo ôn; Tiếp tục đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị bao tiêu sản phẩm giữa doanh nghiệp và nông dân để nâng cao giá trị hạt gạo Gia Lai trên thị trường.
Nhờ hiệu quả kinh tế - xã hội xuất sắc và tính ứng dụng cao, công trình nghiên cứu chọn tạo bộ đôi giống lúa BĐR57 & BĐR999 đã được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai tuyển chọn, giới thiệu tham dự Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) năm 2026.
Nhờ các ưu điểm vượt trội về năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng, cả hai giống lúa đã được chính quyền địa phương đưa vào cơ cấu gieo trồng tại Gia Lai: Giống BĐR57 được đưa vào cơ cấu giống gieo trồng chính thức từ vụ Đông Xuân 2024–2025. Giống BĐR999 được đưa vào cơ cấu giống bổ sung từ vụ Đông Xuân 2023–2024. Diện tích mở rộng: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ đã phối hợp với Công ty Cổ phần Giống cây trồng Đông Nam chuyển giao bản quyền tác giả. Tính đến nay, diện tích sản xuất mở rộng đạt khoảng 40.000 ha đối với BĐR57 và 30.000 ha đối với BĐR999 tại Gia Lai và các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên.
Việc nghiên cứu chọn tạo thành công hai giống lúa mới BĐR57 và BĐR999 là giải pháp khoa học công nghệ xuất sắc, giải quyết triệt để các hạn chế về thời tiết bất lợi và dịch bệnh tại vùng sản xuất lúa tỉnh Gia Lai. Cả hai giống lúa đều sở hữu các ưu điểm vượt trội: Thời gian sinh trưởng ngắn, cứng cây chống đổ ngã, tiềm năng năng suất cao (>75 - 80 tạ/ha), kháng vừa đạo ôn và rầy nâu, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 10% đến 20% so với các giống đối chứng đại trà. Ngoài ra, cả 02 giống lúa này ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng trong sản phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng, đây cũng là tính ưu việt vượt trội của hai dòng sản phẩm này.
Thực tiễn sản xuất đòi hỏi cấp thiết phải thay thế các giống lúa cũ trung ngày, dễ nhiễm sâu bệnh bằng các giống lúa mới ngắn ngày, chịu nhiệt đới cực đoan (nóng/lạnh tốt), kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn. Sự xuất hiện của hai giống lúa BĐR57 (chuyên sản xuất gạo ăn chất lượng cao) và BĐR999 (chuyên sản xuất nguyên liệu chế biến) là câu trả lời khoa học hoàn hảo cho mục tiêu trên. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng năng suất của hai giống lúa BĐR57 và BĐR999, cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nông nghiệp và chính quyền các địa phương: Tiếp tục hướng dẫn nông dân quy hoạch vùng gieo sạ phù hợp với từng chân đất và tiểu vùng sinh thái; Tăng cường tập huấn kỹ thuật canh tác chuẩn, đặc biệt là áp dụng đúng mật độ gieo sạ (80 - 120 kg/ha) và cân đối tỷ lệ phân bón N-P-K (100N - 80P₂O₅ - 60K₂O) để tránh bón thừa đạm gây bùng phát bệnh đạo ôn; Tiếp tục đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị bao tiêu sản phẩm giữa doanh nghiệp và nông dân để nâng cao giá trị hạt gạo Gia Lai trên thị trường.
Nhờ hiệu quả kinh tế - xã hội xuất sắc và tính ứng dụng cao, công trình nghiên cứu chọn tạo bộ đôi giống lúa BĐR57 & BĐR999 đã được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai tuyển chọn, giới thiệu tham dự Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) năm 2026.