Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Gia Lai

https://lienhiephoi.gialai.gov.vn


Các chữ Hán trên mặt tiền Di tích Tháp Chuông H’Bau

Gần mười năm nay, kể từ khi Lễ hội hoa dã quỳ Chư Đang Ya được tổ chức vào tháng 11/2017, mỗi mùa dã quỳ nở vàng trên vùng núi lửa phía bắc Pleiku, lượng du khách tìm đến nơi đây ngày càng đông. Trong hành trình ấy, bên cạnh hàng thông cổ thụ Biển Hồ, núi lửa Chư Đang Ya, hồ Tân Sơn và đỉnh Chư Nâm, di tích tháp chuông nhà thờ cổ H’Bau cũng là một điểm tham quan được nhiều người chú ý.
Hình kèm theo bài viết “Au pays Jaraï” của Kemlin, linh mục truyền giáo vùng người Bahnar đăng trên Les Missions Catholiques, tr. 238
Điều đặc biệt của di tích không chỉ nằm ở dáng vẻ cổ kính của một công trình đã trải qua hơn một thế kỷ, mà còn ở những chữ Hán còn lưu lại trên mặt tiền tháp chuông. Những chữ ấy từng được đọc và giải thích theo nhiều cách, kéo theo những nhận định khác nhau về thời điểm xây dựng công trình. Từ các tư liệu lịch sử, ruyền giáo và ký ức của người địa phương, bài viết xin lần lại tên gọi H’Bau, quá trình hình thành giáo xứ và thử làm rõ các chữ Hán trên mặt tiền di tích, qua đó góp phần xác định niên đại cũng như giá trị lịch sử của tháp chuông.
I. Về tên của di tích

1.1. Các cách gọi thường gặp trên sách báo
Vì cuối thế kỷ XIX đến đầu XX cộng đồng người Jrai chưa có chữ viết, lúc đó các linh mục Thừa sai Hải ngoại thuộc Miền Truyền giáo Bahnar (sau đổi thành Miền Truyền giáo Kontum), mà cụ thể là P. Dourisboure đã học tiếng Bahnar và xuất bản Từ điển “Dictionnaire Bahnar-Français” năm 1889 nên thời bấy giờ các văn bản của người Pháp ghi lại các địa danh của tỉnh Kon Tum cũ theo tiếng Bahnar (Còn về tiếng Jrai thì linh mục Jacques Dournes, người sống tại vùng đất Phú Bổn từ năm 1955-1970, đến năm 1964 mới đánh máy xong Bản thảo Từ điển tiếng Jơraï – “Ébauche de Dictionaire de la Langue Jơraï”, kết thúc bài “Dẫn nhập về tiếng Jơrai”, J. Dournes ghi Cheo Reo 1955-1964. Không rõ khi về Pháp ông đã xuất bản chưa nhưng chúng tôi chỉ có bản thảo đánh máy có cả những ghi chú viết tay của chính J. Dournes) vì thế tên của vùng đất này được viết là Habâu.
Theo chúng tôi, cách viết Hà Bầu (Việt hóa) như các bài viết trên mạng xã hội về du lịch khoảng 20 năm trở lại đây, hoặc Habâu là từ đã được đa số các tác giả từ thời Pháp thuộc đến thời điểm 1970s sử dụng, gồm có: Henri Maitre (Les Jungles Moï, tr 398-399 và Rừng người Thượng III, tr 137); Gerald C. Hickey (The Highland people of South Vietnam, tr. 18); E. Navelle (De Thinai au Bla, trang 241và bản đồ No4 xen giữa trang 244 và 245). Các nhà sử học trong nước thời gian gần đây thường viết là H’Bâu.
1.2. Ý nghĩa tên gọi
1.2.1. Trước hết đây là tên một chi tộc người Jrai ở khu vực gần Biển Hồ Teneung (theo Henri Maitre và Navelle) sau đó mới thành tên vùng đất họ sinh sống.
1.2.2. Theo Tự điển Bahnar – Français của Dourisboure giải nghĩa: Habâu (xem chữ Rơbâu): Mille (1.000) - innombrable (100 et 1.000) (ý nói nhiều không đếm được, có thể là 100 hay 1.000) và từ Rơ bâu: Mille – incalculable nghĩa tương tự như Habâu; nhưng chúng tôi nghĩ thời mới đầu TK XX người thiểu số sống du canh du cư khó mà có nơi nào có đến 1.000 người (kể cả theo cách giải thích: cố Hiển rửa tội cho dân 3 làng được tổng cộng 1.000 nên gọi là Ha R’bâu, khi ghép lại thì bỏ chữ R (?). Có lẽ nên hiểu là “nhiều lắm không đếm được – trên 100”.
1.2.3. Công sứ Quy Nhơn E. Navelle là quan chức Pháp đầu tiên đi thám sát vùng đất cao nguyên Gia Lai. Ông khởi hành từ ngày 14/12/1884 đến 16/01/1885 mới quay về đến Quy Nhơn. Sau chuyến đi Navel viết “De Thinai au Bla” (Từ Thị Nại đến sông Bla) đăng 2 kỳ trên Excursions et Reconnaissances năm 1886 và 1887. Theo Navelle: khi đi đến một bình nguyên rộng lớn được che phủ bởi “loại cỏ mà người Việt gọi là tranh và người thiểu số gọi là habau (trang 241, tiếp theo bài viết của Navelle kèm theo bản đồ nằm giữa trang 244 & 245 có vùng đất Habau ở phía Đông của sông Mê Tung (sông này chảy qua Dak Doa). Đây là một thông tin “rất khác lạ” được Navelle ghi lại theo lời của người dân địa phương. Nghĩa này chỉ mang tính tham khảo.
II. Khởi đầu của giáo xứ HaBâu
Năm 1905, một cơn dịch bệnh đậu mùa đã hoành hành dữ dội trong những buôn làng của bộ tộc Jrai trọng yếu, trong vùng Hà Bầu thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay. Linh mục bề trên Vialleton (cố Truyền) đã cử linh mục Jannin (cố Phước), người sau này sẽ trở thành Giám mục Đại diện Tông toà thứ nhất của miền truyền giáo Kontum, đến chống dịch cứu giúp những con người xấu số mà những phù thủy lẫn các Yang của họ không thể nào cứu nổi.
Linh mục Jannin giúp đỡ dân làng chống dịch và đã viết thư về cho Bề trên cho rằng đây là dịp tốt để truyền giáo tại vùng đất của người Jrai “khá quan trọng, đông người” …  “Như vậy, việc gửi ngay một nhà truyền giáo giàu kinh nghiệm đến với người Jrai là điều cần thiết”.
Cha bề trên Vialleton (cố Truyền) theo đề nghị trên đã cử cha Nicolas (cố Cận) từ Trung tâm Truyền giáo Rơhai đến vùng Habâu làm nhiệm vụ truyền giáo. Nhưng cố Cận gặp nhiều khó khăn vì chỉ ít lâu sau nhiều người đã không giữ đạo như họ hứa. Để ứng phó với tình trạng này, cố Cận đã qui tụ một số tân tòng người Jrai, cộng với những người bị bán làm nô lệ chưa tòng giáo được các thừa sai chuộc về…đến ở một nơi mới, tách xa những làng cũ, tọa lạc tại vùng đồi núi nay gọi là Dang Ria (Tức Chư Đang Ya, “củ gừng dại”, theo địa danh hiện nay). Chính vì số lượng giáo dân người Jrai thất thường có lúc còn rất ít nên các họ đạo của các làng người Việt ở Tiên Sơn được thành lập sớm hơn, còn Plei Sua tức Dang Ria đến 1924 mới thành lập (nơi này mang tên Dang Ria đến 1931 – Plei Sua tức là Plei Xóa hiện nay, nơi có di tích tháp chuông nhà thờ Habâu) (theo ghi chép tại trang 6 của tờ Échos de la Mission tháng 12/1948– Dư Âm). (NQH: Theo C. Robequain “Notes morphologiques sur les plateaux de Pleiku et du Darlac”, tr. 49: Núi Dang Ria là núi lửa có 2 miệng, cao 986 m, cách Pleiku 18 km về phía Bắc).
Công việc đang tiến triển tốt đẹp thì vào năm 1908, cha Nicolas lại nhường nhiệm sở mình cho một thừa sai trẻ - cha Corompt (cố Hiển) vừa lên miền truyền giáo Bahnar đến trông coi. Còn ngài khăn gói lên đường, cách xa 70 km, để xây dựng một họ đạo mới ở làng Plei Rơngol.
Năm 1909, cố đạo Kemlin đi thăm các nhà truyền giáo tại làng Khuen, một làng người Jrai Habâu sinh sống, lúc đó tại đây đã có 1 cư sở truyền giáo (résidence du Missionnaire) là nhà sàn với mái tranh, nhưng bài viết của linh mục Kemlin không hề nói đến việc nhà truyền giáo Corompt chuẩn bị vật liệu hoặc đang xây dựng nhà thờ bằng gạch và xi măng; bài viết còn kèm theo 1 hình khác về một nhà sàn bằng tranh nứa đang ở cữ, không tiếp khách lạ, khi ông đi thăm các nơi của vùng đất này (Do hình chụp cư sở truyền giáo làng Khuen lúc bấy giờ ánh sáng kém nên chúng tôi chỉnh lại ánh sáng). Ở giai đoạn này, việc đưa vật liệu xây dựng từ đồng bằng lên miền núi rất khó khăn do đường sá hiểm trở nhưng với nhà thờ của giáo xứ  Tân-Hương Kon Tum được cố Demeure (Ngự) xây dựng năm 1906 thì giả thuyết nhà thờ Habâu được xây dựng năm 1909, theo lời một số giáo dân lớn tuổi tại vùng này nhớ lại, cũng có thể được ghi nhận để nghiên cứu kỹ hơn.
III. Các chữ Hán trên mặt tiền di tích tháp chuông nhà thờ cổ HaBâu

Cách đây khoảng 20 năm, một số du khách mang theo máy ảnh chuyên nghiệp đã đến (theo cách gọi bây giờ là check-in) di tích này và chụp hình lưu niệm; qua trao đổi tìm hiểu với người dân sống gần nhà thờ đến thay hoa và cầu nguyện họ được cho biết nhà thờ xây khoảng năm 1909, do đó, sau khi tính ngược lại các năm Dậu thì Kỷ Dậu 1909 là phù hợp nhất nên lúc đăng lên mạng xã hội họ đã công bố luôn 3 chữ Hán trên bức hoành của tháp chuông là “Kỷ Dậu niên”. Từ đó, nhiều người tin như vậy là đúng không ai thắc mắc gì.
Tuy nhiên, cố linh mục Tô-ma Nguyễn Văn Thượng (người đã làm linh mục quản nhiệm giáo xứ Hà Bầu từ 1994-2004, và trong giai đoạn ở Hà Bầu ông được bầu làm đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Gia Lai cũ) mặc dù được vị giáo phu già Pich cho biết nhà thờ xây năm 1909, còn ông Câu Hiển từng dạy học ở Hiển Sơn thì nhớ là xây năm 1911, lệch 2 năm; vì thế cố linh mục Tô-ma vẫn muốn giải mã các chữ Hán trên mặt tiền tháp chuông của di tích. Trước khi mất vì “hậu Covid” khoảng 1 năm, ông đã nhờ các thanh niên giáo dân gần đó bắc thang trèo lên tạt nước để ông Nguyễn Ngữ (nguyên chủ tịch Hội Đông Y Gia Lai) lên đọc. Kết quả theo ghi chép của cố linh mục Tô-ma Nguyễn Văn Thượng: 3 chữ ở trên bức hoành là Thiên Thánh Mẫu (với chứ Thiên trong hình chụp còn khá rõ, đọc từ bên trái sang– 2 ô 2 bên bức hoành, ô bên trái bị đạn bắn nên không đọc được, còn ô bên phải đọc được 1 chữ Dậu, chữ kia không đọc được – bên trái từ ngoài nhìn vào).
Dưới đây là 1 trang giải mã các chữ Hán đó và suy luận của cố linh mục Tô-ma Nguyễn Văn Thượng trích trong bài viết “Hà Bầu ngày xưa” (bản cuối trước khi ông mất): Nhà thờ Hà Bầu cổ xây năm 1909 và hoàn thành năm 1911.
nha tho hbau1

Thiên Thánh Mẫu là tước hiệu, là tên nhà thờ. Điều này cũng phù hợp với bổn mạng của nhà thờ Chư Đang Ya là Đức bà Maria, Đức mẹ Chúa Trời (Mère de Dieu) (tức là nhà thờ Hà Bầu mới, xây xong năm 2006; khi linh mục quản xứ xin phép xây dựng thì dùng địa danh mới là Chư Đang Ya thay cho tên cũ là Hà Bầu).
Theo một số giáo dân lớn tuổi đã từng sống ở Hà Bầu trước 1975 thì: ban đầu, năm 1909 nhà thờ được xây dựng đơn sơ, mái tranh vách đất trộn rơm trát lên cốt tre, đến khoảng từ 1921 mới xây lại có tháp chuông bằng gạch như hiện nay. Lược sử Giáo xứ Hà Bầu viết: “Năm 1909, cha Corompt đã cho xây dựng cư sở (nhà xứ) và nhà thờ Hà Bầu. Ngôi nhà thờ Hà Bầu được xây dựng lại có tháp gạch vào những năm 1920-1930”
(link:https://giaophankontum.com/giao-phan/giao-xu/mien-gia-lai/giao-hat-chu-pah/giao-xu-ha-bau).

Điều này chúng tôi cho rằng hợp lý vì họ đạo Plei Sua (tức Dang Ria, và sau là Hiển Sơn) mãi đến 1924 mới thành lập, năm 1927 cũng chỉ có được 302 giáo dân, như vậy năm 1909 số giáo dân vừa ít và vật liệu đưa lên miền núi còn rất khó khăn nên khó có thể xây dựng được nhà thờ như hình chụp của Steven Lowe năm 1967. Vả lại trên mặt tiền chỉ có 1 chữ Dậu thì không thể khẳng định đó là Kỷ Dậu mà cũng có thể là Tân Dậu, tức 12 năm sau (năm 1921).
Tháp chuông di tích nhà thờ cổ Hà Bầu hiện nay được khá nhiều du khách đến tham quan hoặc chiêm bái. Vì vậy, nếu dự kiến đưa vào phục vụ du lịch cùng với núi lửa Chư Dang Ya thì cũng nên lập dự án bảo tồn để di tích không bị hư hại xuống cấp, đồng thời bảo đảm an toàn cho du khách khi họ muốn vào sát công trình để xem chứ không chỉ chụp hình từ xa.
nha tho hbau2
Hình trái: Hình chụp nhà thờ Hà Bầu năm 1967 còn nguyên vẹn, đến khoảng 1972 hư hỏng do chiến tranh.
Hình phải: Di tích tháp chuông chụp năm 2022. – GL 22/7/2026 -N Q- Hiền.

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Quang Hiền, Nguyên PGĐ Điện lực Gia Lai (cũ)

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây