Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay
- Thứ sáu - 05/06/2026 17:09
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người, đồng thời là một trong những yếu tố bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững. Trong thời gian qua, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, tỉnh Gia Lai đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình đó, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường giữ vai trò định hướng, điều tiết, kiểm soát các hoạt động phát triển, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đặt ra không ít thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường, nhất là trong quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu. Vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
1. Kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
Từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Tỉnh đã chủ động cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và quy định của Nhà nước thông qua việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch và đề án về bảo vệ môi trường. Nội dung các văn bản tập trung vào những lĩnh vực trọng tâm như quản lý chất thải, phân bổ nguồn lực cho hoạt động bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Qua đó, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo cơ sở cho việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, tỉnh đã quan tâm bố trí nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường. Theo Báo cáo của UBND tỉnh, kinh phí sự nghiệp môi trường của tỉnh Bình Định (cũ) đạt 113,965 triệu đồng năm 2022; 157,539 triệu đồng năm 2023; 174,454 triệu đồng năm 2024 và Gia Lai (cũ) đạt 133,186 triệu đồng năm 2022, 178,732 triệu đồng năm 2023 và 167,351 triệu đồng năm 2024[1]. Nguồn kinh phí này được sử dụng cho các hoạt động quan trắc môi trường, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, thanh tra, kiểm tra, thu gom và xử lý chất thải, điều tra đa dạng sinh học và các nhiệm vụ bảo vệ môi trường khác. Điều đó cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của tỉnh đối với công tác bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng đạt được những kết quả tích cực. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp[2] đã tham gia đầu tư vào hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải. Việc huy động các nguồn vốn vay, vốn viện trợ và nguồn lực ngoài ngân sách đã góp phần đầu tư các công trình hạ tầng môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường tiếp tục được tăng cường. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 10 khu công nghiệp (KCN), trong đó 8 KCN đã đi vào hoạt động và đều được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Có 7/8 KCN đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục theo quy định. Đối với các cụm công nghiệp, toàn tỉnh có 45 cụm công nghiệp (CCN) đã có 8 CCN đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguồn thải lớn đã thực hiện lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát nguồn thải và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Hệ thống quan trắc môi trường từng bước được đầu tư theo hướng hiện đại. Tỉnh hiện đang quản lý và vận hành 20 trạm quan trắc tự động đối với môi trường không khí, nước mặt, nước ngầm và nước biển[3]. Dữ liệu quan trắc được cập nhật thường xuyên, phục vụ công tác giám sát, cảnh báo và quản lý môi trường. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về môi trường trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay.
2. Những khó khăn, thách thức đặt ra
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế cần được quan tâm giải quyết.
Trước hết, việc hoàn thiện hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn chưa đồng bộ. Một số nội dung thuộc thẩm quyền của địa phương theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đến nay vẫn chưa được ban hành, như chính sách khuyến khích phân loại riêng chất thải nguy hại trong chất thải rắn sinh hoạt; chính sách hỗ trợ đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị và khu dân cư tập trung; lộ trình và cơ chế hỗ trợ xử lý nước thải sinh hoạt tại các khu dân cư không tập trung.
Thứ hai, hạ tầng bảo vệ môi trường tại một số khu vực chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Toàn tỉnh hiện có 45 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động nhưng mới chỉ có 8 cụm công nghiệp đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nhiều cụm công nghiệp chưa hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, ảnh hưởng đến công tác kiểm soát ô nhiễm cũng như khả năng thu hút đầu tư phát triển sản xuất.
Thứ ba, nguồn nhân lực làm công tác quản lý môi trường còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong khi lĩnh vực môi trường ngày càng mở rộng, khối lượng công việc ngày càng lớn thì đội ngũ cán bộ quản lý môi trường ở cơ sở chủ yếu làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề môi trường phát sinh tại địa phương.
Thứ tư, hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh còn gặp nhiều khó khăn. Quỹ chưa có vốn điều lệ đáp ứng yêu cầu theo quy định, thiếu nhân lực chuyên trách và chưa phát huy đầy đủ vai trò hỗ trợ tài chính cho các dự án bảo vệ môi trường. Đây là một trong những hạn chế ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực xã hội cho lĩnh vực môi trường.
Thứ năm, áp lực từ quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, gia tăng chất thải, khai thác tài nguyên và tác động của biến đổi khí hậu đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường. Một số ngành sản xuất có nguy cơ phát sinh ô nhiễm cao như chế biến cao su, tinh bột sắn, mía đường, chăn nuôi, giết mổ gia súc, khai thác khoáng sản tiếp tục đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, một số quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu hướng dẫn cụ thể; nhiều nội dung mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đòi hỏi thời gian để hoàn thiện. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan có lúc chưa thật sự đồng bộ; năng lực tham mưu và nguồn nhân lực làm công tác môi trường ở một số địa phương còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
3. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Tỉnh cần rà soát toàn diện các quy định hiện hành để kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách còn thiếu theo thẩm quyền được giao. Đồng thời, cần bảo đảm tính thống nhất giữa các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu bảo vệ môi trường. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý mà còn góp phần nâng cao tính chủ động của địa phương trong giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh.
Hai là, tăng cường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường. Cần ưu tiên nguồn lực để xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp, khu dân cư và các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao. Song song với đó, cần tiếp tục đầu tư các công trình xử lý chất thải rắn, nâng cấp hệ thống quan trắc môi trường và bảo đảm vận hành hiệu quả các công trình hiện có. Đây là giải pháp quan trọng nhằm kiểm soát ô nhiễm ngay từ nguồn phát sinh.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác quản lý môi trường. Cần thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở. Đồng thời, nghiên cứu bố trí cán bộ chuyên trách đối với những địa bàn có khối lượng công việc lớn và yêu cầu quản lý cao. Việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về môi trường.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý môi trường. Tỉnh cần tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới quan trắc tự động, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường đồng bộ và kết nối liên thông giữa các cơ quan quản lý. Việc ứng dụng công nghệ số sẽ giúp nâng cao chất lượng giám sát môi trường, kịp thời phát hiện các nguy cơ ô nhiễm và hỗ trợ quá trình ra quyết định quản lý. Đây cũng là xu hướng tất yếu của nền quản trị môi trường hiện đại.
Năm là, tăng cường huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo vệ môi trường. Cần có các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và các công nghệ thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh nhằm hỗ trợ các dự án môi trường có tính khả thi và hiệu quả cao. Việc đa dạng hóa nguồn lực sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và thúc đẩy phát triển xanh.
Sáu là, phát huy vai trò của cộng đồng và đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường. Cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức, tư vấn, phản biện và giám sát xã hội đối với các chính sách môi trường. Đồng thời, cần khuyến khích các nghiên cứu khoa học, các sáng kiến và giải pháp công nghệ phục vụ công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Sự tham gia tích cực của cộng đồng và đội ngũ trí thức sẽ tạo thêm nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp bảo vệ môi trường của tỉnh.
4. Kết luận
Sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai có không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý, khai thác và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng môi trường, nâng cao năng lực quản lý và phát huy sự tham gia của toàn xã hội sẽ góp phần xây dựng môi trường sống xanh, an toàn, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh Gia Lai trong giai đoạn mới.
1. Kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
Từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Tỉnh đã chủ động cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và quy định của Nhà nước thông qua việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch và đề án về bảo vệ môi trường. Nội dung các văn bản tập trung vào những lĩnh vực trọng tâm như quản lý chất thải, phân bổ nguồn lực cho hoạt động bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Qua đó, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo cơ sở cho việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, tỉnh đã quan tâm bố trí nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường. Theo Báo cáo của UBND tỉnh, kinh phí sự nghiệp môi trường của tỉnh Bình Định (cũ) đạt 113,965 triệu đồng năm 2022; 157,539 triệu đồng năm 2023; 174,454 triệu đồng năm 2024 và Gia Lai (cũ) đạt 133,186 triệu đồng năm 2022, 178,732 triệu đồng năm 2023 và 167,351 triệu đồng năm 2024[1]. Nguồn kinh phí này được sử dụng cho các hoạt động quan trắc môi trường, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, thanh tra, kiểm tra, thu gom và xử lý chất thải, điều tra đa dạng sinh học và các nhiệm vụ bảo vệ môi trường khác. Điều đó cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của tỉnh đối với công tác bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng đạt được những kết quả tích cực. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp[2] đã tham gia đầu tư vào hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải. Việc huy động các nguồn vốn vay, vốn viện trợ và nguồn lực ngoài ngân sách đã góp phần đầu tư các công trình hạ tầng môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường tiếp tục được tăng cường. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 10 khu công nghiệp (KCN), trong đó 8 KCN đã đi vào hoạt động và đều được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Có 7/8 KCN đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục theo quy định. Đối với các cụm công nghiệp, toàn tỉnh có 45 cụm công nghiệp (CCN) đã có 8 CCN đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguồn thải lớn đã thực hiện lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát nguồn thải và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Hệ thống quan trắc môi trường từng bước được đầu tư theo hướng hiện đại. Tỉnh hiện đang quản lý và vận hành 20 trạm quan trắc tự động đối với môi trường không khí, nước mặt, nước ngầm và nước biển[3]. Dữ liệu quan trắc được cập nhật thường xuyên, phục vụ công tác giám sát, cảnh báo và quản lý môi trường. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về môi trường trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay.
2. Những khó khăn, thách thức đặt ra
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế cần được quan tâm giải quyết.
Trước hết, việc hoàn thiện hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn chưa đồng bộ. Một số nội dung thuộc thẩm quyền của địa phương theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đến nay vẫn chưa được ban hành, như chính sách khuyến khích phân loại riêng chất thải nguy hại trong chất thải rắn sinh hoạt; chính sách hỗ trợ đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị và khu dân cư tập trung; lộ trình và cơ chế hỗ trợ xử lý nước thải sinh hoạt tại các khu dân cư không tập trung.
Thứ hai, hạ tầng bảo vệ môi trường tại một số khu vực chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Toàn tỉnh hiện có 45 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động nhưng mới chỉ có 8 cụm công nghiệp đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nhiều cụm công nghiệp chưa hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, ảnh hưởng đến công tác kiểm soát ô nhiễm cũng như khả năng thu hút đầu tư phát triển sản xuất.
Thứ ba, nguồn nhân lực làm công tác quản lý môi trường còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong khi lĩnh vực môi trường ngày càng mở rộng, khối lượng công việc ngày càng lớn thì đội ngũ cán bộ quản lý môi trường ở cơ sở chủ yếu làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề môi trường phát sinh tại địa phương.
Thứ tư, hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh còn gặp nhiều khó khăn. Quỹ chưa có vốn điều lệ đáp ứng yêu cầu theo quy định, thiếu nhân lực chuyên trách và chưa phát huy đầy đủ vai trò hỗ trợ tài chính cho các dự án bảo vệ môi trường. Đây là một trong những hạn chế ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực xã hội cho lĩnh vực môi trường.
Thứ năm, áp lực từ quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, gia tăng chất thải, khai thác tài nguyên và tác động của biến đổi khí hậu đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường. Một số ngành sản xuất có nguy cơ phát sinh ô nhiễm cao như chế biến cao su, tinh bột sắn, mía đường, chăn nuôi, giết mổ gia súc, khai thác khoáng sản tiếp tục đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, một số quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu hướng dẫn cụ thể; nhiều nội dung mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đòi hỏi thời gian để hoàn thiện. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan có lúc chưa thật sự đồng bộ; năng lực tham mưu và nguồn nhân lực làm công tác môi trường ở một số địa phương còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
3. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Tỉnh cần rà soát toàn diện các quy định hiện hành để kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách còn thiếu theo thẩm quyền được giao. Đồng thời, cần bảo đảm tính thống nhất giữa các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu bảo vệ môi trường. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý mà còn góp phần nâng cao tính chủ động của địa phương trong giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh.
Hai là, tăng cường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường. Cần ưu tiên nguồn lực để xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp, khu dân cư và các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao. Song song với đó, cần tiếp tục đầu tư các công trình xử lý chất thải rắn, nâng cấp hệ thống quan trắc môi trường và bảo đảm vận hành hiệu quả các công trình hiện có. Đây là giải pháp quan trọng nhằm kiểm soát ô nhiễm ngay từ nguồn phát sinh.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác quản lý môi trường. Cần thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở. Đồng thời, nghiên cứu bố trí cán bộ chuyên trách đối với những địa bàn có khối lượng công việc lớn và yêu cầu quản lý cao. Việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về môi trường.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý môi trường. Tỉnh cần tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới quan trắc tự động, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường đồng bộ và kết nối liên thông giữa các cơ quan quản lý. Việc ứng dụng công nghệ số sẽ giúp nâng cao chất lượng giám sát môi trường, kịp thời phát hiện các nguy cơ ô nhiễm và hỗ trợ quá trình ra quyết định quản lý. Đây cũng là xu hướng tất yếu của nền quản trị môi trường hiện đại.
Năm là, tăng cường huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo vệ môi trường. Cần có các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và các công nghệ thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh nhằm hỗ trợ các dự án môi trường có tính khả thi và hiệu quả cao. Việc đa dạng hóa nguồn lực sẽ góp phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và thúc đẩy phát triển xanh.
Sáu là, phát huy vai trò của cộng đồng và đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường. Cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức, tư vấn, phản biện và giám sát xã hội đối với các chính sách môi trường. Đồng thời, cần khuyến khích các nghiên cứu khoa học, các sáng kiến và giải pháp công nghệ phục vụ công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Sự tham gia tích cực của cộng đồng và đội ngũ trí thức sẽ tạo thêm nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp bảo vệ môi trường của tỉnh.
4. Kết luận
Sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai có không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý, khai thác và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng môi trường, nâng cao năng lực quản lý và phát huy sự tham gia của toàn xã hội sẽ góp phần xây dựng môi trường sống xanh, an toàn, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh Gia Lai trong giai đoạn mới.
[1] UBND tỉnh Gia Lai (2025), Báo cáo số 15/BC-UBND ngày 23/7/2025 việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực
[2] Nguồn vốn, nguồn viện trợ của ODA, UNDP, GEF, ADB,… và từ nhiều dự án hợp tác khác
[3] UBND tỉnh Gia Lai (2025), Báo cáo số 15/BC-UBND ngày 23/7/2025 việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực