Lê Đại Cang – Từ Thầy đồ làng đến danh thần triều Nguyễn
Thứ ba - 18/11/2025 09:12
Trên vùng đất Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai, nơi tiếp nối truyền thống Bình Định xưa, tên tuổi Lê Đại Cang 黎大綱 vẫn được nhắc đến như một biểu tượng về trung hiếu, thanh liêm và tận tụy với dân, với nước. Ông là một danh thần triều Nguyễn, được vua Minh Mạng ban tặng bốn chữ vàng “Lão đương ích tráng” – tuổi cao mà chí khí càng thêm mạnh mẽ.
Một số cuốn sách viết về Lê Đại Cang
Từ thầy đồ làng đến đại thần triều Nguyễn Lê Đại Cương, tự Thống Thiện, hiệu Kì Phong, sinh năm 1771 (Tân Mão) tại thôn Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định trước đây, nay thuộc xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai. Ông xuất thân trong một gia đình Nho học nhiều đời hiển đạt. Thân phụ là Lê Hậu, từng giữ chức Hàn lâm viện Thị độc học sĩ; thân mẫu là Cung nhân Nguyễn Thị Quản, người nổi tiếng đức hạnh. Thuở nhỏ, Lê Đại Cang học với cha, sau theo Thị giảng Nguyễn Tử Nghiễm và đại thần Đặng Đức Siêu, sớm nổi tiếng thông minh, ham học và có chí lập thân. Năm 21 tuổi, cha mẹ qua đời, ông dừng việc học, mở lớp dạy chữ để sinh sống – “cày bằng lưỡi” như cách ông tự gọi nghề dạy học thanh bạch của mình. Năm 1801 (Tân Dậu), sau khi vua Gia Long khôi phục kinh thành, Lê Đại Cang được Quận công Nguyễn Huỳnh Đức và Tham tri bộ Hình Nguyễn Hoài Quỳnh tiến cử, bổ làm Tri huyện Tuy Viễn. Từ đó, con đường quan lộ của ông rộng mở, trải qua hơn 40 năm phụng sự triều đình. Ông từng giữ nhiều chức vụ trọng yếu: Binh bộ Thiêm sự, Hiệp trấn Sơn Tây, Cai bạ Quảng Nam, Cai bạ Vĩnh Long, Hình bộ Thị lang, rồi Tham tri kiêm Hình tào, Tổng trấn Bắc thành, Binh bộ Thượng thư, Đô sát viện Hữu đô ngự sử, Tổng đốc Sơn Tây – Hưng Hóa – Tuyên Quang, sau là Tổng đốc An Giang – Hà Tiên, kiêm Bảo hộ Cao Miên quốc ấn. Trong thời Minh Mạng, ông được giao trọng trách Trấn Tây tham tán đại thần, trực tiếp kinh lý vùng Cao Miên, giúp Phiên vương chống quân Xiêm, giữ vững biên giới Tây Nam. Công lao ấy được triều đình ghi nhận, vua nhiều lần ban chiếu khen ngợi, ca ngợi ông “lấy dân làm gốc, lấy nghĩa làm đầu”. Khí tiết và nhân cách của một trung thần Trong biến loạn thành Phiên An (1833), Lê Đại Cang từng bị cách chức, nhưng sớm được phục hồi vì thanh liêm và trung nghĩa. Dù tuổi cao, ông vẫn gánh vác trọng trách; vua Minh Mạng ban tặng bốn chữ “Lão đương ích tráng”, xem ông như tấm gương trung thần của triều đình. Cuối đời, ông xin cáo quan, trở về quê cũ nay là xã Tuy Phước Bắc, dựng chùa Giác Am (nay là chùa Bảo Thọ) làm nơi tu tập và dạy học. Dân làng tôn kính gọi ông là Giác Am cư sĩ – người vừa có đạo hạnh vừa có học vấn. Ông qua đời năm 1847 (Đinh Mùi), hưởng thọ 76 tuổi. Các tác phẩm còn lưu truyền như Nam hành, Tục Nam hành, Tỉnh Ngu tập thể hiện tư tưởng đạo lý sâu sắc của ông: lấy hiếu trị thân, lấy trung trị quốc, đề cao nhân nghĩa và trách nhiệm của kẻ sĩ trước thời cuộc. Vì sao nên gọi là Lê Đại Cương - Từ danh nhân xưa đến niềm tự hào mới Trong một thời gian dài, nhiều tài liệu ghi tên ông là Lê Đại Cang, do chữ Hán 綱 có thể đọc “cang” hoặc “cương”. Tuy nhiên, theo Lê thị gia phả – bản Hán văn và dịch nghĩa còn lưu tại từ đường họ Lê ở Tuy Phước Bắc, ba người chị của ông có tên Trinh, Tiết, Kỉ; tên ông nối theo người chị thứ ba tạo thành cụm từ “Kỉ Cương”, mang ý nghĩa đạo đức – trật tự trong văn hóa Nho học. Vì vậy, việc xác lập tên Lê Đại Cương là đúng với truyền thống gọi tên Hán Việt của vùng Bình Định cũ. Ngày nay, Tổ đường họ Lê ở Tuy Phước Bắc vẫn lưu giữ nhiều tư liệu quý: Lê thị gia phả, Tự dẫn, Lê thị hành thực thuật – đều có bút tích Hán Nôm của chính cụ Lê Đại Cang. Đây là nguồn di sản văn hóa đặc sắc, góp phần kết nối mạch văn hóa từ Bình Định xưa đến Gia Lai hôm nay. Trong tiến trình phát triển của tỉnh mới, hình ảnh danh thần Lê Đại Cang – người con trung hiếu của xã Phước Hiệp xưa, và xã Tuy Phước Bắc ngày nay vẫn soi sáng như một tấm gương lớn về trí tuệ, bản lĩnh và đạo nghĩa của người Việt. Nguồn tư liệu: Lê thị gia phả, Lê Đại Cương tiểu sử, Đại Nam chính biên liệt truyện, bản dịch Quốc sử quán Triều Nguyễn.
Nhà từ đường của ông Lê Đại Cang nằm trên địa bàn thôn Luật Chánh, xã Phước Hiệp (huyện Tuy Phước, Bình Định) nay là xã Tuy Phước Bắc tỉnh Gia Lai
Tác giả bài viết: TS. Võ Minh Hải - Trường Đại học Quy Nhơn