Từ Nước Mặn đến Làng Sông: Hành trình của chữ Quốc ngữ

Thứ ba - 23/06/2026 09:53
Trong tiến trình lịch sử của chữ Quốc ngữ, Nước Mặn được ghi nhận là một trong những nơi phôi thai của hệ thống chữ viết La-tinh ghi âm tiếng Việt. Chính tại vùng đất này, những giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đã bắt đầu quá trình học tiếng Việt, thử nghiệm ký âm ngôn ngữ bản địa bằng mẫu tự La-tinh và đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành chữ Quốc ngữ.
Nhà thờ Làng Sông (Ảnh: Dũng Nhân)
Nhà thờ Làng Sông (Ảnh: Dũng Nhân)
Tuy nhiên, hành trình ấy không dừng lại ở thế kỷ XVII. Trên vùng đất Bình Định xưa, nay thuộc tỉnh Gia Lai, Làng Sông tiếp tục trở thành trung tâm đào tạo, in ấn và truyền bá chữ Quốc ngữ, tạo nên một dòng chảy văn hóa kéo dài hơn ba thế kỷ. Nhìn từ góc độ đó, Nước Mặn và Làng Sông không chỉ là hai địa danh lịch sử mà còn là hai mắt xích quan trọng trong tiến trình hình thành, phát triển và phổ biến chữ Quốc ngữ ở Việt Nam.
          Nơi những con chữ đầu tiên được hình thành
          Đầu thế kỷ XVII, Nước Mặn là một trong những thương cảng sầm uất nhất của Đàng Trong. Nằm bên đầm Thị Nại, nơi đây là điểm hội tụ của các thương nhân Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha và nhiều quốc gia phương Tây. Chính trong môi trường giao lưu quốc tế ấy, các giáo sĩ Dòng Tên đã đến truyền giáo và thành lập cơ sở truyền giáo đầu tiên ở Đàng Trong tại Nước Mặn vào năm 1618. Từ cơ sở này, mạng lưới truyền giáo tiếp tục được mở rộng đến Hội An (1619) và Dinh Chiêm (1625), tạo thành ba trung tâm nền tảng của Dòng Tên tại Đàng Trong.
Để truyền giảng giáo lý, các giáo sĩ buộc phải học tiếng Việt. Nhưng muốn học tiếng Việt, họ cần một phương thức ghi lại âm thanh của ngôn ngữ bản địa bằng mẫu tự La-tinh. Chính từ nhu cầu thực tiễn ấy, những thử nghiệm đầu tiên của chữ Quốc ngữ đã được hình thành.
          Những giáo sĩ đầu tiên hoạt động tại Nước Mặn như Francesco Buzomi, Francesco de Pina và Cristophoro Borri đã đặt nền móng cho quá trình nghiên cứu tiếng Việt theo phương pháp ngôn ngữ học phương Tây. Theo các báo cáo truyền giáo đương thời, Francesco de Pina là người đầu tiên nói thành thạo tiếng Việt, đến mức có thể trực tiếp giảng đạo bằng tiếng Việt. Đến năm 1620, toàn Đàng Trong mới chỉ có hai giáo sĩ sử dụng thành thạo tiếng Việt là Pina và Borri. Nhà sử học Dòng Tên Daniello Bartoli còn ghi nhận rằng Buzomi nhanh chóng nắm được hệ thống thanh điệu, đa nghĩa của từ ngữ và đã biên soạn từ vựng cùng những quy tắc ngữ pháp đầu tiên. Những tư liệu này cho thấy chính thế hệ giáo sĩ đầu tiên tại cơ sở Nước Mặn đã đặt nền móng cho quá trình ký âm tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh.
Sau này, Alexandre de Rhodes, hoạt động trong mạng lưới truyền giáo Đàng Trong do các bậc tiền bối xây dựng, đã kế thừa những thành quả ấy để tiếp tục hoàn thiện hệ thống ký âm. Vì vậy, lịch sử chữ Quốc ngữ không phải là thành quả của một cá nhân, mà là kết quả của quá trình kế tiếp giữa nhiều thế hệ giáo sĩ.
          Trong tác phẩm Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong xuất bản năm 1631, Cristophoro Borri đã ghi lại nhiều địa danh và từ ngữ tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh như Nuoecman (Nước Mặn), Quignin (Qui Nhơn), Chiuua (Chúa)... Những cách ghi này tuy còn khác khá xa chữ Quốc ngữ hiện nay nhưng là những minh chứng quý giá cho giai đoạn phôi thai của hệ thống chữ viết mới. Điều đáng chú ý là phía sau những bản ghi ấy còn có sự đóng góp thầm lặng của nhiều người Việt. Các thầy giảng, giáo dân và cư dân địa phương không chỉ giúp các giáo sĩ học tiếng Việt mà còn trực tiếp hướng dẫn cách phát âm, giải thích nghĩa từ và kiểm chứng cách ghi chép. Chính sự cộng tác ấy đã tạo nên nền tảng ban đầu của chữ Quốc ngữ. Vì thế, chữ Quốc ngữ là kết quả của quá trình giao lưu và đồng sáng tạo giữa tri thức phương Tây với ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.
          Làng Sông tiếp nối hành trình Quốc ngữ
          Nếu Nước Mặn là nơi những thử nghiệm đầu tiên của chữ Quốc ngữ được hình thành thì từ cuối thế kỷ XIX, Làng Sông lại trở thành nơi chữ Quốc ngữ được đào tạo, in ấn và phổ biến rộng rãi. Sự phát triển ấy gắn liền với quá trình hình thành của Giáo hội Công giáo tại vùng đất này. Từ Giáo phận Tông tòa Đàng Trong (1659), đến Giáo phận Đông Đàng Trong (1844) và sau đó là Giáo phận Qui Nhơn (1924), Làng Sông luôn giữ vị trí trung tâm trong hoạt động đào tạo và xuất bản của giáo phận. Chủng viện Qui Nhơn cùng Nhà in Làng Sông - một trong ba nhà in Công giáo lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ - đã trở thành trung tâm biên soạn, in ấn và phát hành sách bằng chữ Quốc ngữ.
          Tại đây, hàng loạt sách giáo lý, sách học chữ, sách giáo khoa, từ điển và nhiều ấn phẩm tôn giáo, văn hóa được xuất bản, góp phần mở rộng phạm vi sử dụng chữ Quốc ngữ ở miền Trung và cả nước. Nếu ở Nước Mặn, chữ Quốc ngữ chủ yếu phục vụ nhu cầu truyền giáo thì tại Làng Sông, chữ Quốc ngữ đã trở thành phương tiện giáo dục, truyền bá tri thức và từng bước đi vào đời sống xã hội. Qua những cuốn sách được in tại đây, chữ Quốc ngữ không còn giới hạn trong phạm vi nhà thờ mà dần hiện diện trong trường học, trong hoạt động học thuật và trong văn hóa đọc của người Việt đầu thế kỷ XX.
          Nhìn từ tiến trình lịch sử, Nước Mặn và Làng Sông không phải là hai câu chuyện tách biệt. Nếu Nước Mặn đánh dấu giai đoạn hình thành những thử nghiệm đầu tiên thì Làng Sông là nơi kế thừa, phát triển và phổ biến những thành quả ấy. Từ những bản ký âm còn sơ khai của Borri đến những cuốn sách được in hàng loạt tại Nhà in Làng Sông là cả một hành trình liên tục kéo dài hơn ba thế kỷ.
nuoc man
Cảnh quan tại Chùa Bà Nước Mặn (Ảnh: Dũng Nhân)

          Một không gian di sản văn hóa của chữ Quốc ngữ
          Nhiều năm qua, Nước Mặn thường được nhắc đến như một trong những nơi phôi thai của chữ Quốc ngữ, còn Làng Sông được biết đến như một trung tâm đào tạo và xuất bản Công giáo. Tuy nhiên, nếu đặt hai địa danh này trong cùng một tiến trình lịch sử sẽ thấy giá trị của chúng không chỉ nằm ở từng sự kiện riêng lẻ. Từ Nước Mặn đến Làng Sông là hành trình chuyển biến của chữ Quốc ngữ từ giai đoạn hình thành, thử nghiệm đến quá trình đào tạo, in ấn và phổ biến trong đời sống xã hội. Đây là một dòng chảy lịch sử hiếm có, phản ánh khá đầy đủ tiến trình phát triển của chữ Quốc ngữ trên cùng một không gian địa lý.
          Trong bối cảnh tỉnh Gia Lai mới đang từng bước xây dựng chiến lược phát triển văn hóa sau sáp nhập, đây cũng là một nguồn tài nguyên di sản đặc biệt cần được nhận diện và phát huy. Thay vì nghiên cứu từng địa điểm riêng lẻ, có thể đặt Nước Mặn, Chủng viện Qui Nhơn, Nhà in Làng Sông cùng các di tích liên quan trong một chỉnh thể thống nhất để từng bước hình thành Không gian văn hóa chữ Quốc ngữ. Đây không chỉ là việc bảo tồn các di tích vật thể mà còn là bảo tồn ký ức về quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây, về sự cộng tác giữa các giáo sĩ và người Việt trong quá trình hình thành hệ thống chữ viết hiện đại của dân tộc. Không gian này hoàn toàn có thể trở thành điểm nhấn trong giáo dục lịch sử địa phương, nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch văn hóa của Gia Lai.
          Nếu quần thể di tích Tây Sơn là biểu tượng của truyền thống yêu nước và tinh thần quật khởi dân tộc, thì Nước Mặn - Làng Sông có thể được định vị như biểu tượng của quá trình giao lưu văn hóa và sự hình thành chữ Quốc ngữ. Đây không chỉ là di sản của vùng đất Bình Định xưa, không chỉ là một giá trị văn hóa đặc sắc của tỉnh Gia Lai hôm nay, mà còn là di sản chung của lịch sử văn hóa Việt Nam. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của không gian văn hóa này không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử chữ Quốc ngữ mà còn mở ra một hướng tiếp cận mới trong xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương, gắn kết di sản với giáo dục, nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa. Từ Nước Mặn đến Làng Sông, hành trình của chữ Quốc ngữ vì thế không chỉ thuộc về quá khứ mà còn có thể trở thành một nguồn lực văn hóa quan trọng cho tương lai của Gia Lai nói riêng và của cả nước nói chung.
 

Tác giả bài viết: TS. Võ Minh Hải

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập12
  • Hôm nay2,712
  • Tháng hiện tại51,483
  • Tổng lượt truy cập3,708,175
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây