Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Gia Lai gắn với phát triển du lịch bền vững
Thứ hai - 28/09/2026 15:28
Di tích lịch sử - văn hóa là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, lưu giữ những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và phản ánh bản sắc, ký ức cũng như đời sống tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh phát triển hiện nay, di tích không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ, gìn giữ mà còn là nguồn lực văn hóa có khả năng đóng góp cho giáo dục truyền thống, quảng bá hình ảnh địa phương, tạo sinh kế cho cộng đồng và phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không phải là khai thác tối đa các giá trị của di tích cho mục tiêu kinh tế, mà là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn của di sản và khả năng trao truyền các giá trị văn hóa cho các thế hệ mai sau.
Khu Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt
1. Một số vấn đề lý luận
1.1. Di tích lịch sử - văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa 2024, di tích lịch sử - văn hóa là công trình kiến trúc, nghệ thuật, cụm công trình xây dựng, địa điểm, di chỉ khảo cổ hoặc cấu trúc có tính chất khảo cổ học; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, cụm công trình, địa điểm, di chỉ hoặc cấu trúc đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [5].
Từ góc độ quản trị di sản, di tích cần được nhìn nhận như một “di sản sống”, tồn tại trong quan hệ với cộng đồng, cảnh quan, ký ức xã hội và thực hành văn hóa. Vì vậy, phát huy giá trị không đồng nghĩa với thương mại hóa, mà là đưa giá trị của di tích vào đời sống đương đại thông qua giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo, du lịch và sinh kế, trên cơ sở bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và quyền của cộng đồng chủ thể. 1.2. Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa 2024, bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của di sản [5]. Theo Lê Thị Thu Phượng, “bảo tồn (preservation) là “hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại” [3, tr. 15-17] và “phát huy giá trị di sản (heritage promotion): là những hành động nhằm đưa DSVH và trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy dự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội” [3, tr. 15-17].
Như vậy, có thể hiểu bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động nhằm bảo vệ, gìn giữ sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa theo đúng dạng thức và giá trị nguyên gốc của nó, đồng thời chủ động đưa di tích vào đời sống xã hội đương đại nhằm tạo ra các giá trị văn hóa, kinh tế - xã hội mới, trên cơ sở kiên quyết đảm bảo tính nguyên gốc và tính bền vững của di sản.
Theo cách tiếp cận quản trị di sản, di sản văn hóa không chỉ là đối tượng cần được bảo tồn mà còn là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển bền vững. Theo Vigneron (2016), quản trị di sản hiện đại đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể như cơ quan nhà nước, cộng đồng địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và chuyên gia nhằm bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, phát huy giá trị di sản và thúc đẩy phát triển bền vững [9]. 1.3. Phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi): “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm phát triển kinh tế (tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)” [1].
Theo Luật Du lịch 2017, phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai. Luật cũng quy định nguyên tắc phát triển du lịch: Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng [4].
Như vậy, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững là quá trình bảo vệ, gìn giữ và duy trì lâu dài các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của di tích trên cơ sở bảo đảm tính nguyên gốc và toàn vẹn của di sản. Đồng thời, thông qua việc khai thác, sử dụng hợp lý các giá trị của di tích trong đời sống đương đại, hoạt động này góp phần tạo ra những giá trị văn hóa, kinh tế và xã hội mới, phục vụ phát triển du lịch. 2. Tiềm năng và cấu trúc không gian di tích - du lịch của tỉnh Gia Lai
Gia Lai sau sắp xếp là sự hội tụ trong một địa giới hành chính của hai không gian văn hóa lớn: Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ. Ở phía Tây là hệ thống di tích, cảnh quan và thực hành văn hóa gắn với cộng đồng Jrai, Bahnar như Tây Sơn Thượng Đạo, Rộc Tưng - Gò Đá, Biển Hồ, núi lửa Chư Đăng Ya, Làng kháng chiến Stơr, Plơi Ơi, nhà rông, nhà mồ, cồng chiêng, sử thi và lễ hội. Ở phía Đông là không gian văn hóa Tây Sơn, hệ thống tháp Chăm, di tích kiến trúc - nghệ thuật, làng nghề, đô thị lịch sử, văn hóa Bài chòi, lễ hội và văn hóa biển. Sự kết nối này tạo điều kiện xây dựng chuỗi trải nghiệm có chiều sâu thay vì các điểm tham quan rời rạc.
Hệ thống tài nguyên của tỉnh còn được bổ trợ bởi Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cao nguyên Kon Hà Nừng, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, cảnh quan cao nguyên, hồ, thác, đầm, bán đảo, bãi biển và đảo ven bờ. Khi di tích được đặt trong tổng thể cảnh quan - cộng đồng - ẩm thực - nghề thủ công - lễ hội, giá trị du lịch không chỉ nằm ở “xem di tích” mà chuyển thành trải nghiệm về lịch sử, ký ức, bản sắc và đời sống địa phương.
Toàn tỉnh có 200 di tích được xếp hạng, 13 bảo vật quốc gia và 150 di tích đã được số hóa trên phần mềm của Cục Di sản văn hóa [8, tr. 1–2]. Quy mô này cho thấy Gia Lai có điều kiện hình thành một hệ sinh thái du lịch di sản đa trung tâm, trong đó các di tích tiêu biểu đóng vai trò hạt nhân, còn di sản phi vật thể, cảnh quan và cộng đồng tạo nên nội dung trải nghiệm.
Du lịch lịch sử; cộng đồng; địa chất - khảo cổ; cồng chiêng; trải nghiệm làng
Bảo vệ cảnh quan, không gian thực hành văn hóa; cộng đồng quyết định nội dung trình diễn
Trung du - hành lang Tây Sơn
Hệ thống di tích gắn phong trào Tây Sơn, các tuyến giao thương lịch sử giữa thượng đạo và hạ đạo
Tuyến kể chuyện Tây Sơn; giáo dục lịch sử; trekking văn hóa
Bảo đảm tính xác thực tư liệu, liên kết điểm di tích thành câu chuyện thống nhất
Đồng bằng - đô thị - di sản Chăm
Bảo tàng Quang Trung; hệ thống tháp Chăm; di tích kiến trúc, tôn giáo, làng nghề
Du lịch di sản; bảo tàng; kiến trúc; làng nghề; ẩm thực
Kiểm soát xây dựng, cảnh quan, sức chứa; nâng chất lượng thuyết minh
Duyên hải - biển đảo
Di sản văn hóa biển, làng chài, lễ hội, Bài chòi, cảnh quan ven biển
Du lịch văn hóa biển; trải nghiệm cộng đồng; nghỉ dưỡng gắn văn hóa
Tránh sân khấu hóa, thương mại hóa quá mức; bảo vệ môi trường và sinh kế địa phương
Bảng 1. Gợi ý cấu trúc không gian di tích - sản phẩm du lịch của tỉnh Gia Lai sau sắp xếp.
3. Kết quả bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với du lịch
Thứ nhất, công tác kiểm kê, bảo tồn, số hóa và quảng bá di sản được quan tâm hơn. Theo Báo cáo số 176/BC-SVHTTDL ngày 08/4/2026 đã có 150/200 di tích của tỉnh đã được số hóa trên phần mềm của Cục Di sản văn hóa; các bảo tàng đã số hóa hàng nghìn hiện vật, tích hợp mã QR và bước đầu quét 3D. Đến cuối năm 2025, tỉnh đã hoàn thành 40/60 mã QR tại các di tích, điểm du lịch. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành cơ sở dữ liệu di sản và hệ thống thuyết minh số [8, tr. 1–2].
Thứ hai, mối liên kết giữa bảo tồn văn hóa và phát triển sản phẩm du lịch đã rõ hơn. Các điểm như Biển Hồ, Chư Đăng Ya, Cao nguyên Kon Hà Nừng, Stơr, Mơ Hra - Đáp, làng Kép được đưa vào nhóm sản phẩm văn hóa - sinh thái, du lịch cộng đồng. Các hoạt động “Cồng chiêng cuối tuần”, festival, truyền dạy cồng chiêng, trải nghiệm ẩm thực, thổ cẩm và nông sản địa phương góp phần đưa di sản trở lại đời sống và tạo thêm cơ hội sinh kế.
Thứ ba, du lịch Gia Lai có mức tăng trưởng đáng chú ý. Năm 2025, toàn tỉnh đón khoảng 12,4 triệu lượt khách, tăng 17,6% so với năm 2024; trong đó khách quốc tế khoảng 125.000 lượt, tổng doanh thu du lịch khoảng 29.000 tỷ đồng. Trong 5 tháng đầu năm 2026, tỉnh đón gần 7 triệu lượt khách, tổng thu khoảng 15.200 tỷ đồng. Năm Du lịch quốc gia 2026 với chủ đề “Gia Lai - Đại ngàn chạm biển xanh” tạo thêm cơ hội quảng bá không gian du lịch mới và tăng cường liên kết giữa phía Tây với phía Đông của tỉnh.
Thứ tư, vai trò của cộng đồng và nghệ nhân ngày càng được chú ý. Giai đoạn 2023-2025 tỉnh đã tổ chức 10 lớp dạy chỉnh chiêng cho 111 học viên Jrai, Bahnar; Festival năm 2023 có hơn 1.000 nghệ nhân tham gia [7]. Những hoạt động này cho thấy bảo tồn hiệu quả không thể chỉ dựa vào tu bổ vật thể mà cần duy trì người thực hành, tri thức và không gian xã hội của di sản.
Di tích lịch sử - văn hóa An Khê Đình
4. Hạn chế và những vấn đề đặt ra
Một là, hệ thống di tích tuy phong phú nhưng mức độ kết nối thành sản phẩm du lịch còn chưa tương xứng. Nhiều điểm đến vẫn được giới thiệu riêng lẻ, thiếu câu chuyện chung, thiếu sản phẩm liên hoàn và thiếu cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong không gian tỉnh mới. Đặc biệt, tiềm năng kết nối “thượng đạo - hạ đạo” của di sản Tây Sơn và kết nối “đại ngàn - đồng bằng - biển” chưa được chuyển hóa đầy đủ thành các hành lang du lịch có thương hiệu.
Hai là, chất lượng bảo tồn và khả năng khai thác giữa các di tích còn không đồng đều. Một số di tích cần tiếp tục tu bổ, hoàn thiện hạ tầng tiếp cận, thuyết minh, biển chỉ dẫn và dịch vụ hỗ trợ. Nếu đầu tư thiên về xây dựng mới hoặc chỉnh trang phục vụ du lịch mà thiếu căn cứ khoa học, nguy cơ làm giảm tính xác thực và tính toàn vẹn của di tích có thể gia tăng.
Ba là, nguy cơ thương mại hóa, sân khấu hóa và làm sai lệch ngữ cảnh văn hóa cần được nhận diện rõ hơn. Một nghi lễ, cồng chiêng, trang phục hay thực hành truyền thống khi được đưa vào sản phẩm du lịch có thể bị rút ngắn, thay đổi không gian, thời điểm, chủ thể hoặc ý nghĩa để phù hợp thị hiếu. Khi đó, lượng khách và doanh thu tăng chưa chắc đồng nghĩa với bảo tồn tốt hơn.
Bốn là, chuyển đổi số còn thiếu tính liên thông và chiều sâu. Mặc dù số lượng di tích được số hóa đã tăng, Kỷ yếu Hội thảo chỉ ra hạ tầng chưa đồng bộ, tỷ lệ số hóa chưa cao ở một số nhóm dữ liệu, khả năng ứng dụng rộng VR/AR, GIS còn hạn chế; dữ liệu di sản chưa kết nối đầy đủ với sản phẩm du lịch, giáo dục và quyền khai thác của cộng đồng.
Năm là, cơ chế cộng đồng tham gia và hưởng lợi chưa thật sự trở thành một tiêu chí bắt buộc của dự án du lịch di sản. Nếu cộng đồng chỉ tham gia ở khâu biểu diễn hoặc cung cấp dịch vụ giản đơn, trong khi quyền quyết định nội dung văn hóa, quyền dữ liệu và phần lợi ích kinh tế chủ yếu thuộc về chủ thể khác, phát triển du lịch khó tạo động lực bảo tồn lâu dài.
Sáu là, hệ thống chỉ tiêu đánh giá còn có xu hướng nhấn mạnh các đầu ra dễ đếm như lượt khách, doanh thu, số sự kiện, số mã QR. Để đánh giá đúng tính bền vững, cần bổ sung các chỉ báo về tình trạng bảo tồn di tích, sức sống của thực hành văn hóa, mức độ hài lòng của cộng đồng, tỷ lệ lợi ích giữ lại tại địa phương, thời gian lưu trú và chất lượng trải nghiệm. 5. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Gia Lai gắn với phát triển du lịch bền vững
Thứ nhất, chuyển từ quản lý từng di tích sang quản trị hệ sinh thái di sản - điểm đến
Tỉnh cần rà soát, thống nhất cơ chế quản lý di tích trong không gian hành chính mới, đồng thời chuyển trọng tâm từ quản lý từng điểm riêng lẻ sang quản trị theo cụm di sản, tuyến di sản và cảnh quan văn hóa. Mỗi cụm cần xác định rõ giá trị cốt lõi, vùng bảo vệ, chủ thể quản lý, cộng đồng liên quan, sức chứa, sản phẩm phù hợp và cơ chế giám sát. Cách tiếp cận này giúp kết nối bảo tồn với quy hoạch, giao thông, môi trường, du lịch, giáo dục và phát triển cộng đồng.
Đối với các di tích có giá trị đặc biệt, cần xây dựng kế hoạch quản lý trung hạn và dài hạn, xác lập bộ chỉ số theo dõi tình trạng bảo tồn, rủi ro thiên tai - khí hậu, áp lực du lịch và biến đổi cảnh quan. Các dự án tu bổ phải tuân thủ nguyên tắc can thiệp tối thiểu, có căn cứ khoa học và hồ sơ hóa đầy đủ trước - trong - sau can thiệp.
Thứ hai, xây dựng các hành lang du lịch văn hóa đặc trưng của Gia Lai
Thay vì chỉ phát triển sản phẩm “rừng - biển” theo nghĩa địa lý, Gia Lai có thể nâng cấp thành cấu trúc sản phẩm “đại ngàn - di sản Tây Sơn - biển xanh”, trong đó lịch sử và văn hóa đóng vai trò sợi dây liên kết. Có thể nghiên cứu ba hành lang: (i) hành lang văn hóa Tây Nguyên gắn Jrai - Bahnar, cồng chiêng, khảo cổ, cảnh quan núi lửa và làng cộng đồng; (ii) hành lang di sản Tây Sơn kết nối các điểm thượng đạo với hạ đạo, bảo tàng, võ cổ truyền, làng nghề và ký ức lịch sử; (iii) hành lang di sản Chăm - đô thị - biển kết nối tháp Chăm, Bài chòi, làng nghề, ẩm thực và văn hóa biển.
Mỗi hành lang cần được thiết kế như một câu chuyện có mở đầu, điểm nhấn và trải nghiệm kết thúc; thống nhất hệ thống nhận diện, thuyết minh, vé hoặc pass liên điểm, bản đồ số và lịch sự kiện. Việc này vừa kéo dài thời gian lưu trú, vừa phân tán dòng khách và tạo cơ hội để các điểm di tích ít nổi tiếng tham gia chuỗi giá trị.
Thứ ba, bảo vệ tính xác thực, quản trị sức chứa và kiểm soát thương mại hóa
Đây nên được xem là nội dung trung tâm của phát triển du lịch di sản bền vững. Tỉnh cần xây dựng tiêu chí đánh giá tính xác thực trên các phương diện: nội dung, chủ thể, không gian và ngữ cảnh. Với nghi lễ, lễ hội, cồng chiêng và thực hành văn hóa cộng đồng, cần phân biệt rõ hoạt động thực hành văn hóa của cộng đồng với phiên bản giới thiệu cho du khách; mọi sự điều chỉnh phải có sự tham gia và đồng thuận của chủ thể văn hóa.
Đồng thời, cần xác định sức chứa phù hợp đối với các di tích, không gian tâm linh, khảo cổ và cảnh quan nhạy cảm; tổ chức phân luồng khách, đặt lịch theo khung giờ khi cần thiết, hạn chế các hoạt động có nguy cơ xâm hại di tích. Chỉ tiêu phát triển không nên dừng ở số lượt khách mà cần tính đến chất lượng trải nghiệm, mức độ bảo tồn và lợi ích cộng đồng.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng “số hóa để bảo tồn - dữ liệu để quản trị - công nghệ để trải nghiệm”
Trên nền tảng 150 di tích đã được số hóa, tỉnh cần chuẩn hóa dữ liệu, gắn mã định danh, tọa độ, hồ sơ khoa học, ảnh tư liệu, mô hình 3D và thông tin về tình trạng bảo tồn; tiến tới cơ sở dữ liệu dùng chung có khả năng liên thông giữa văn hóa, du lịch, giáo dục và quy hoạch. Ưu tiên số hóa chất lượng cao đối với di tích quốc gia, quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia và các di tích có nguy cơ xuống cấp.
Mã QR cần chuyển từ chức năng “đọc thông tin” sang cổng trải nghiệm: thuyết minh đa ngôn ngữ, bản đồ tuyến, tư liệu trước - sau, câu chuyện nhân vật, nội dung dành cho trẻ em, hướng dẫn ứng xử và liên kết dịch vụ địa phương. VR/AR, GIS và AI chỉ nên được áp dụng khi làm rõ giá trị di tích, không thay thế hoặc làm sai lệch di sản thật. Đồng thời, cần quy định quyền dữ liệu, quyền hình ảnh và cơ chế chia sẻ lợi ích đối với tri thức truyền thống và nội dung do cộng đồng cung cấp.
Thứ năm, đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể và thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích
Cộng đồng phải được tham gia từ khâu xác định giá trị cần bảo tồn, thiết kế sản phẩm, lựa chọn nội dung được phép giới thiệu, tổ chức dịch vụ đến giám sát tác động. Đối với các làng Jrai, Bahnar, Chăm, Hrê và cộng đồng làng nghề, cần hình thành tổ/nhóm quản trị du lịch cộng đồng có quy ước rõ về phân chia lợi ích, quỹ bảo tồn và trách nhiệm bảo vệ di sản.
Có thể nghiên cứu cơ chế trích một tỷ lệ phù hợp từ doanh thu vé, dịch vụ hoặc khai thác thương hiệu di sản để tái đầu tư cho tu bổ, truyền dạy, hỗ trợ nghệ nhân và cải thiện không gian sống của cộng đồng. Khi người dân nhìn thấy lợi ích trực tiếp và công bằng từ bảo tồn, di sản mới có khả năng duy trì như một phần sống động của đời sống chứ không chỉ là tài nguyên trình diễn.
Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực và nâng chất lượng diễn giải di sản
Tỉnh cần bồi dưỡng đồng thời ba nhóm năng lực: chuyên môn bảo tồn cho cán bộ quản lý di tích; năng lực thiết kế sản phẩm và quản trị điểm đến cho đội ngũ du lịch; kỹ năng kể chuyện, số hóa, ngoại ngữ và dịch vụ cho cộng đồng. Cần xây dựng đội ngũ thuyết minh viên theo chuyên đề, đặc biệt đối với di sản Tây Sơn, văn hóa Jrai - Bahnar và hệ thống tháp Chăm, tránh thuyết minh chung chung hoặc sai lệch lịch sử.
Các trường đại học, cơ sở nghiên cứu, bảo tàng, doanh nghiệp và địa phương có thể phối hợp xây dựng chương trình thực địa, thực tập, nghiên cứu ứng dụng và “phòng thí nghiệm di sản” tại điểm đến. Giáo dục di sản trong trường học cũng cần gắn với tham quan, dự án học tập và hoạt động trải nghiệm tại di tích để tạo thế hệ công chúng kế cận.
Thứ bảy, đổi mới hệ thống đánh giá phát triển du lịch di sản theo hướng bền vững
Bên cạnh lượt khách và doanh thu, cần xây dựng bộ chỉ số theo bốn nhóm: (i) bảo tồn - tình trạng vật thể, cảnh quan, mức độ nguyên gốc, số thực hành văn hóa được duy trì; (ii) kinh tế - thời gian lưu trú, chi tiêu bình quân, việc làm tại chỗ, tỷ lệ doanh thu giữ lại trong cộng đồng; (iii) xã hội - mức độ tham gia và hài lòng của cộng đồng, số nghệ nhân và người trẻ tham gia truyền dạy; (iv) môi trường - sức chứa, rác thải, nước, năng lượng và áp lực lên cảnh quan. Công khai định kỳ các chỉ số này sẽ giúp chuyển quản trị du lịch từ chạy theo số lượng sang chất lượng và khả năng phục hồi dài hạn.
Gia Lai có lợi thế hiếm có khi hội tụ trong một không gian hành chính các lớp di sản của Tây Nguyên, Tây Sơn, Chăm Pa, đồng bằng duyên hải và văn hóa biển. Với nhiều di tích cùng bảo vật quốc gia, hệ thống di sản phi vật thể phong phú và sự tăng trưởng của thị trường du lịch, tỉnh có điều kiện để xây dựng thương hiệu du lịch di sản có tầm vóc vùng và quốc gia.
Tuy nhiên, lợi thế chỉ chuyển hóa thành phát triển bền vững khi bảo tồn được đặt trước yêu cầu khai thác ngắn hạn. Hướng đi phù hợp là chuyển từ quản lý điểm di tích sang quản trị hệ sinh thái di sản - điểm đến; liên kết không gian “đại ngàn - di sản Tây Sơn - biển xanh”; bảo vệ tính xác thực và sức chứa; dùng chuyển đổi số để tăng năng lực bảo tồn, quản trị và trải nghiệm; đồng thời bảo đảm cộng đồng có quyền tham gia, quyền quyết định đối với giá trị văn hóa của mình và được hưởng lợi công bằng. Đây cũng là cơ sở để Gia Lai biến di sản thành nguồn lực nội sinh mà không làm suy giảm chính những giá trị tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Thị Như Hiền (2023), “Giải pháp phát triển du lịch bền vững Việt Nam”, Tạp chí Công Thương, số 3.
Trường Chính trị tỉnh Gia Lai - Đảng ủy phường Pleiku (2026), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa các dân tộc - Nghiên cứu thực tiễn tại các xã, phường phía Tây tỉnh Gia Lai”, Gia Lai.
Lê Thị Thu Phượng (2025), Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tộc người trong mối quan hệ với phát triển du lịch, tr. 15-17, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Quốc hội (2017), Luật Du lịch.
Quốc hội (2024), Luật Di sản văn hóa.
Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai (2025), Báo cáo số 310-BC/SVHTTDL, ngày 01/12/2025 về kết quả hoạt động năm
2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026, tr. 19–20.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai (2026), Báo cáo số 176/BC-SVHTTDL ngày 08/4/2026 số liệu về di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tr. 1–2.
Vigneron, S. (2016), “From Local to World Heritage: A Comparative Analysis”, The Historic Environment: Policy & Practice, 7(2-3), pp. 115-132.
[1]Ngày 06/01/2026. Hội nghị tổng kết ngành Văn hóa,Thể thao và Du lịch Gia Lai năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026
Tác giả bài viết: ThS. Cao Kỳ Nam (Trường Đại học Quy Nhơn)