Từ “chăm lo” đến “phát huy” nguồn lực người cao tuổi
Già hóa dân số đang trở thành một xu hướng lớn trên thế giới và ở Việt Nam. Trong cách tiếp cận truyền thống, già hóa thường được nhìn từ phía những áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe và lực lượng lao động. Tuy nhiên, cùng với quá trình này đang hình thành một cách tiếp cận mới: già hóa dân số không chỉ tạo ra thách thức mà còn mở ra một không gian phát triển mới – “kinh tế bạc”.
“Kinh tế bạc” có thể được hiểu là hệ sinh thái các hoạt động kinh tế gắn với nhu cầu, khả năng tiêu dùng và sự đóng góp của người cao tuổi (NCT). Vì vậy, nếu chỉ xem đây là thị trường cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người cao tuổi thì chưa đầy đủ. Cốt lõi của kinh tế bạc là nhìn nhận NCT vừa là đối tượng được chăm lo, vừa là chủ thể có khả năng tạo ra giá trị cho gia đình, cộng đồng và nền kinh tế.
Hệ sinh thái này có thể bao gồm chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, thiết bị hỗ trợ, bảo hiểm, nhà ở và không gian sống thân thiện với NCT; đồng thời mở rộng sang du lịch, văn hóa, giải trí, thể thao, dịch vụ xã hội và chuyển đổi số. Quan trọng hơn, đó còn là việc phát huy tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp, uy tín xã hội và vốn văn hóa của NCT thông qua tư vấn, đào tạo, truyền nghề và tham gia các hoạt động cộng đồng.
Như vậy, chính sách NCT trong giai đoạn mới cần được đặt trong một khung rộng hơn: bảo đảm an sinh gắn với phát huy nguồn lực NCT.
“Kinh tế bạc” – một định hướng mới đối với công tác Hội
Định hướng này cũng đang được đặt ra trong hoạt động của Hội Người cao tuổi Việt Nam. Theo nội dung dự thảo Văn kiện Đại hội Hội Người cao tuổi Việt Nam khóa VII, nhiệm kỳ 2026–2031, một trong ba khâu đột phá được xác định là “Tham mưu phát triển ‘kinh tế bạc’ ở Việt Nam, phối hợp tham mưu, đề xuất các chính sách, pháp luật, an sinh xã hội liên quan đến người cao tuổi”.
Cùng với đó là yêu cầu đẩy mạnh công tác tham mưu, đề xuất chính sách, pháp luật và an sinh xã hội cho NCT; nghiên cứu khoa học làm cơ sở đề xuất chính sách; giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách; đồng thời đổi mới phương thức hoạt động, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác Hội.
Điều này cho thấy vai trò của tổ chức Hội đang được đặt trong một yêu cầu rộng hơn: không chỉ tuyên truyền, vận động, chăm lo và bảo vệ quyền lợi NCT, mà còn tham gia nghiên cứu, phản biện, kết nối nguồn lực và tham mưu chính sách.
Đối với tỉnh Gia Lai, đây là cơ sở để Hội Người cao tuổi tỉnh chủ động nghiên cứu, đề xuất một cách tiếp cận phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội, dân cư và văn hóa của địa phương.
Gia Lai cần chủ động chuẩn bị cho “kinh tế bạc”
Đặt vấn đề “kinh tế bạc” vào điều kiện của Gia Lai không có nghĩa là phải nhanh chóng hình thành những ngành kinh tế hoàn toàn mới dành riêng cho NCT. Điều quan trọng trước hết là nhận diện nhu cầu và nguồn lực của NCT, từ đó từng bước tích hợp chính sách NCT vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Một số lĩnh vực có thể được quan tâm trước mắt:
Trước hết là chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn. Khi tuổi thọ tăng, nhu cầu khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc tại nhà và các dịch vụ hỗ trợ NCT sẽ ngày càng lớn. Tỉnh Gia Lai có thể nghiên cứu những mô hình chăm sóc phù hợp với điều kiện địa phương, kết hợp giữa gia đình, cộng đồng, cơ sở y tế, tổ chức Hội và doanh nghiệp. Đặc biệt, cần quan tâm những NCT sống một mình, có hoàn cảnh khó khăn hoặc cần hỗ trợ thường xuyên.
Thứ hai, là phát huy khả năng tiếp tục đóng góp của NCT. “Kinh tế bạc” không đồng nghĩa với việc mọi NCT đều phải tiếp tục làm việc. Chính sách cần tôn trọng sự khác biệt về tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh và lựa chọn của từng người. Tuy nhiên, với những người còn sức khỏe, có nhu cầu và khả năng, cần tạo điều kiện để họ tiếp tục tham gia các hoạt động phù hợp.
Đối với Gia Lai, đây có thể là các mô hình phát huy kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình, nghề truyền thống, truyền nghề, tư vấn sản xuất, xây dựng cộng đồng và phát triển sản phẩm địa phương. Người cao tuổi, nhất là ở khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn có thể đóng vai trò quan trọng trong lưu giữ, truyền dạy văn hóa, phong tục, nghề truyền thống và tri thức bản địa cho thế hệ trẻ.
Thứ ba, là gắn “kinh tế bạc” với du lịch, văn hóa và dịch vụ. Tỉnh Gia Lai có thể nghiên cứu các sản phẩm du lịch thân thiện với NCT, chú trọng sự thuận tiện trong đi lại, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ. Qua đó, “kinh tế bạc” có thể được kết nối với du lịch cộng đồng, văn hóa, sản phẩm OCOP, làng nghề và các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa địa phương.
Thứ tư, phát triển các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của NCT. Tỉnh có thể khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức xã hội tham gia vào các lĩnh vực như chăm sóc tại nhà, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, thiết bị hỗ trợ sinh hoạt, vận chuyển, văn hóa, thể thao và các dịch vụ cộng đồng. Đây vừa là yêu cầu an sinh, vừa tạo thêm không gian cho khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ xã hội.
Thứ năm, đưa chuyển đổi số trở thành một thành tố của “kinh tế bạc”. Chuyển đổi số không chỉ phục vụ quản lý Hội mà còn giúp NCT tiếp cận thuận lợi hơn với thông tin, dịch vụ công, chăm sóc sức khỏe, thanh toán và các hoạt động xã hội. Vì vậy, cần quan tâm nâng cao kỹ năng số cho NCT, nhất là những người ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Một số định hướng chính sách
Từ những yêu cầu trên, Tỉnh Gia Lai có thể nghiên cứu một số định hướng chủ yếu.
Thứ nhất, đưa vấn đề người cao tuổi và “kinh tế bạc” vào quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Đây không phải là nhiệm vụ riêng của một ngành mà cần có sự phối hợp giữa các lĩnh vực y tế, an sinh xã hội, lao động, thương mại, du lịch, xây dựng, giao thông, văn hóa, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số.
Thứ hai, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu và nhận diện nhu cầu của NCT. Cần quan tâm các thông tin về quy mô, phân bố, điều kiện sống, sức khỏe, thu nhập, nhu cầu chăm sóc, việc làm, tiêu dùng, văn hóa, du lịch và khả năng tham gia xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để chính sách được xây dựng sát thực tế.
Thứ ba, nghiên cứu xây dựng chương trình hoặc kế hoạch thí điểm về phát triển kinh tế bạc trên địa bàn tỉnh. Có thể lựa chọn một số lĩnh vực phù hợp như chăm sóc sức khỏe, chăm sóc tại nhà, phát huy người cao tuổi trong sản xuất – truyền nghề, du lịch thân thiện với NCT, chuyển đổi số hoặc các dịch vụ cộng đồng; đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.
Thứ tư, tạo môi trường để doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức xã hội tham gia. Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng cơ chế và bảo đảm quyền lợi; doanh nghiệp và các tổ chức xã hội có thể tham gia cung cấp sản phẩm, dịch vụ; còn NCT vừa là người sử dụng, vừa có thể trở thành người tham gia tạo ra giá trị.
Thứ năm, xây dựng cơ chế phát huy NCT có năng lực, kinh nghiệm và uy tín xã hội. Cần khuyến khích các hoạt động tư vấn, truyền nghề, giáo dục cộng đồng, bảo tồn văn hóa, hỗ trợ thế hệ trẻ và tham gia phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với sức khỏe, nguyện vọng của từng người.
Phát huy vai trò của Hội Người cao tuổi tỉnh Gia Lai
Trong quá trình này, Hội Người cao tuổi tỉnh Gia Lai có thể trở thành cầu nối giữa người cao tuổi, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời phát huy rõ hơn vai trò tham mưu chính sách.
Trước hết, Hội cần chủ động khảo sát, tổng hợp và phản ánh nhu cầu của NCT từ cơ sở; nghiên cứu khả năng tham gia kinh tế, những khó khăn và rào cản mà người cao tuổi đang gặp phải. Từ thực tiễn đó, Hội có thể tham mưu với Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh những cơ chế, chính sách phù hợp.
Hội cũng có thể kết nối nguồn lực giữa người cao tuổi với doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở y tế, cơ sở đào tạo và các tổ chức xã hội; phát hiện những NCT có kinh nghiệm, chuyên môn, tay nghề để kết nối với các hoạt động tư vấn, truyền nghề, phát triển sản phẩm địa phương và du lịch cộng đồng.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát hiện, tổng kết và nhân rộng những mô hình NCT đang tạo ra giá trị kinh tế – xã hội ở cơ sở. Các chi hội, câu lạc bộ có thể trở thành không gian chia sẻ kinh nghiệm, truyền nghề, giao lưu giữa các thế hệ và tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng.
Đồng thời, Hội cần góp phần thay đổi nhận thức xã hội về tuổi già: từ cách nhìn NCT chủ yếu là đối tượng cần chăm lo sang cách nhìn toàn diện hơn, trong đó NCT còn có nhiều kinh nghiệm, tri thức, vốn xã hội và khả năng đóng góp. Đây là nền tảng xã hội quan trọng để “kinh tế bạc” phát triển theo hướng nhân văn và bền vững.
Về lâu dài, Hội Người cao tuổi tỉnh có thể nghiên cứu đề xuất một chương trình hoặc đề án về phát huy nguồn lực NCT và phát triển “kinh tế bạc” của tỉnh Gia Lai, trong đó xác định mục tiêu, lĩnh vực ưu tiên, cơ chế phối hợp, mô hình thí điểm và trách nhiệm của các bên. Hội không thay thế vai trò quản lý nhà nước hay vai trò của doanh nghiệp, mà phát huy chức năng đại diện, tham mưu, kết nối, giám sát và phản biện xã hội.
“Kinh tế bạc”, xét đến cùng, không chỉ là câu chuyện về một thị trường mới mà còn là câu chuyện về cách xã hội nhìn nhận tuổi già. Nếu NCT chỉ được nhìn như những người cần trợ giúp, chúng ta mới chỉ nhìn thấy một phần của vấn đề. Nếu nhìn thấy ở họ kinh nghiệm, tri thức, sức mua, khả năng lao động phù hợp, vốn xã hội và khả năng đóng góp cho cộng đồng, thì già hóa dân số có thể được tiếp cận bằng một tư duy phát triển khác.
Với tỉnh Gia Lai, chủ động định hướng chính sách về NCT ngay từ hôm nay chính là chuẩn bị cho xã hội của tương lai – nơi tuổi thọ cao đi cùng chất lượng sống cao, an sinh được bảo đảm và mỗi NCT được tôn trọng, được lựa chọn và có cơ hội đóng góp theo khả năng của mình.
Từ “thích ứng với già hóa” đến “chủ động định hướng tương lai”, phát triển “kinh tế bạc” không chỉ là giải pháp an sinh mà còn mở ra hướng phát triển mới cho Việt Nam nói chung và Gia Lai nói riêng, góp phần phát huy nguồn lực NCT, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững.